| phê bình văn học |
Viết bởi buthaiminh 20:16 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (0) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
PHÊ BÌNH -TIỂU LUẬN |
|
Triết lí về chiến tranh
trong Cõi đời hư thực
NGUYỄN THỊ THANH
Trong Cõi đời hư thực (Nxb Quân đội nhân dân, 2007, Giải thưởng Bộ Quốc phòng năm 2009), Bùi Thanh Minh đã đưa ra những triết lí khá sắc sảo về chiến tranh từ điểm nhìn khác nhau của hai thế hệ cha con.
Nhân vật chính trong tác phẩm là Trần Củng, một người đã dâng hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chống ngoại xâm của dân tộc. Cuộc đời Trần Củng được vợ anh kể lại: Năm 1965, anh đi bộ đội, đầu năm 1966 về phép mười ngày và cưới vợ. Vợ chồng ở với nhau hai ngày, hai đêm. Năm 1970 được tuyên dương anh hùng, anh ra Bắc báo cáo, tạt qua nhà dăm ba ngày, “ngày đi thăm hỏi họ hàng, làng xóm, tối tiếp khách, chơi bời với bạn bè đến mười một, mười hai giờ khuya. Vợ chồng dành cho nhau tính bằng giờ” (tr.12). Năm 1975 về phép một lần, 1978 lại sang Campuchia đánh nhau, 1989 anh được điều về làm huyện đội trưởng ở quê hương. Không lâu sau, anh phát bệnh thần kinh, phải về gia đình điều trị. Hạnh phúc của vợ chồng anh “chung quy lại chỉ có bốn chữ CĐ và CĐ (chờ đợi và chịu đựng)” (tr.12).
(Xem tiếp)
|
| phê bình văn học |
Viết bởi buthaiminh 21:13 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (0) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
PHÊ BÌNH -TIỂU LUẬN |
|
KHUYNH HƯỚNG TRIẾT LUẬN TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975 VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH
Ths. Nguyễn Thị Thanh
Trường Cao đẳng Hải Dương
Dđ: 0904 465 351
Email: nguyenthithanh_cdhd@yahoo.com.vn
Sau 1975, tiểu thuyết chiến tranh viết theo kiểu triết luận bắt đầu xuất hiện rải rác: Miền cháy (1977), Không phải trò đùa (1987), song phải đến đầu thế kỉ XXI, mới nổi rõ khuynh hướng triết luận. Thực tế đó bắt nguồn từ hai lí do: thứ nhất, cần một độ lùi thời gian để có những suy ngẫm toàn diện và sâu sắc hơn về các cuộc chiến tranh đã qua; thứ hai, kiểu tư duy của người Việt thiên về duy cảm hơn duy lí nên viết tiểu thuyết bằng cảm hứng triết luận có lẽ chưa phải sở trường của nhiều nhà văn Một số tác phẩm tiêu biểu cho khuynh hướng triết luận của tiểu thuyết chiến tranh sau 1975 là: Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Không phải trò đùa (Khuất Quang Thụy), Cõi đời hư thực (Bùi Thanh Minh), Sống khó hơn là chết (Trung Trung Đỉnh).
(Xem tiếp)
|
| Báo Quân đội nhân dân |
Viết bởi buthaiminh 04:33 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (0) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
PHÊ BÌNH -TIỂU LUẬN |
|
Nhà văn quân đội cần viết nhiều và hay hơn về người chiến sĩ hôm nay
QĐND -Chủ Nhật, 30/01/2011, 20:58 (GMT+7)
QĐND - Nhiều người nhận xét rằng, hiện nay quá thiếu vắng các tác phẩm viết về người lính, trong khi đội ngũ các nhà văn mặc áo lính đang tăng lên. Vậy do đâu? Để có thể giải đáp một phần câu hỏi này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với Đại tá nhà văn Bùi Thanh Minh, cán bộ phòng Văn hóa Văn nghệ, Tổng cục Chính trị-người đã gắn bó với mảng văn học quân đội trong nhiều năm.
- Được biết, anh là nhà văn am hiểu mảng văn học trong quân đội?
-Nhiệm vụ của tôi là nắm tình hình văn học và đội ngũ nhà văn quân đội để tham mưu cho Tổng cục Chính trị và cơ quan cấp trên có chủ trương, chính sách đúng đắn, thích hợp nhằm phát triển đội ngũ nhà văn quân đội và động viên họ sáng tác nhiều hơn nữa, đặc biệt là tác phẩm về đề tài chiến tranh cách mạng, lực lượng vũ trang với nội dung tư tưởng tốt, giá trị nghệ thuật cao. Từ đó góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của bộ đội và nhân dân, đóng góp vào nền văn học cách mạng.
- Hiện nay, theo anh, những nhà văn mặc áo lính có viết về người lính? Và họ viết ra sao?
-Hiện nay, nhà văn mặc áo lính, hoặc đã từng mặc áo línhđang viết nhiều và hay về người lính. Bằng chứng là Giải thưởng văn học 5 năm một lần của Bộ Quốc phòng (1999-2004) chúng ta nhận được 178 tác phẩm tiểu thuyết, trường ca, tập truyện, tập thơ… viết về đề tài người lính. 5 năm sau ( 2005-2009) chúng ta nhận được 200 tác phẩm của 200 tác giả viết về đề tài người lính gửi đến tham gia giải thưởng. Trong số những tác phẩm trên có những tác phẩm đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn, Giải thưởng Asean, Giải thưởng Mê-kông và các giải thưởng khác. Những tác phẩm trên hầu hết là viết về các cuộc kháng chiến vừa qua của dân tộc.
Tuy vậy, vẫn cần nhiều hơn nữa những tác phẩm viết về người lính hôm nay. Những nhà văn trưởng thành từ người lính-Trước hết họ là người lính cầm súng lăn lộn trên chiến trường, thao trường rồi mới thành nhà văn. Vì thế, dù viết gì thì tác phẩm của họ vẫn nóng hổi hơi thở người chiến sĩ.
 MỘT TRONG NHỮNG BÌA SÁCH CỦA BÙI THANH MINH
- Anh nhận thấy đội ngũ nhà văn trong quân đội có lợi thế gi? Họ đã khai thác lợi thế đó như thế nào?
-Thứ nhất, họ hưởng lương quân hàm như những sĩ quan khác để yên tâm viết văn. Thứ hai, đó là điều quan trọng vì họ là lực lượng nhà văn có lợi thế viết hay, viết sâu về đề tài người lính. Trong chiến tranh và những năm sau chiến tranh, Tạp chí Văn nghệ Quân đội được bạn đọc yêu thích chính là ở chỗ này. Nó là một tạp chí văn nghệ không lẫn với bất cứ tạp chí văn nghệ nào...
Còn về câu: “Họ đã khai thác lợi thế đó như thế nào?” thì phải nói như thế này: Nhà văn đã từng qua trận mạc, dù họ đã về hưu, hay chuyển ngành hoặc đang tại ngũ họ vẫn cần mẫn cày xới trên cánh đồng mà họ đã đổ máu để giành chiến thắng. Nhưng những nhà văn quân đội thế hệ trẻ sau này trưởng thành trong thời kỳ đổi mới thì họ ít viết về người lính cùng thế hệ, nhất là những nhà văn không trưởng thành từ người chiến sĩ thì hầu như họ chưa viết được gì đáng kể về đề tài này. Đây là một nguy cơ “bạc áo lính” trong cơ quan, đơn vị văn học nghệ thuật, mà chúng ta cần khắc phục.
- Để có thể khắc phục những vấn đề anh vừa nhận định, chúng ta cần quan tâm điều gì hơn cả?
- Tổng cục Chính trị đã thấy được nguyên nhân của sự thiếu vắng những tác phẩm văn học viết về người chiến sĩ hôm nay là do thiếu hụt đội ngũ nhà văn trẻ trưởng thành từ người chiến sĩ. Do vậy, từ năm 1998, Quân đội đã tổ chức các Trại bồi dưỡng sáng tác cho các cây bút có năng khiếu văn học trong quân đội. Từ những trại bồi dưỡng trên lại tuyển lựa những cây bút có nhiều triển vọng gửi đi Trường Bồi dưỡng viết văn. Và gần đây nhất, Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội đã thu nạp một số cây bút trưởng thành từ những trại Bồi dưỡng về học Khoa Sáng tác Lý luận Phê bình Văn học hệ đại học, nhằm bổ sung kiến thức tổng hợp cho họ. Đây là một đội ngũ viết văn tương lai hùng hậu, lực lượng chủ yếu sẽ viết về người lính hôm nay. Nhưng để giữ được đội ngũ trên, biến họ từ người viết nghiệp dư thành viết chuyên nghiệp, cần phải có một cơ chế để quản lý, nâng đỡ và sử dụng những mầm non; các cơ quan, đơn vị văn học nghệ thuật cần tăng cường lực lượng này... Tôi nói ví dụ, hiện nay những cây bút đang được bồi dưỡng tại Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội, sau khi ra trường nên được bố trí ở các cơ quan văn học nghệ thuật, báo chí để họ phát huy khả năng và trở thành cây bút chuyên nghiệp để họ viết về người lính hôm nay. Nếu trả về đơn vị để làm cán bộ quân sự, chính trị, hậu cần, kỹ thuật… thì họ khó có thể trở thành cây viết chuyên nghiệp. Chúng ta có thể đào tạo được sĩ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật…, nhưng chúng ta không thể đào tạo ra được nhà văn, nếu họ không có tư chất và một môi trường chuyên nghiệp.
- Xin cảm anh
Quỳnh Linh
|
| Đôi điều suy ngẫm |
Viết bởi buthaiminh 20:41 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (2) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
PHÊ BÌNH -TIỂU LUẬN |
|
Hội Văn học Nghệ thuật VN tại LB Nga http://nguoibanduong.net
Buồn quá, hôm nay xem tiểu thuyết
Thật sự thì câu thơ của T.T.Kh vốn có ý nghĩa khác, ở đây đơn giản chỉ là một sự tình cờ, một sự trùng hợp tôi muốn lấy riêng câu thơ này ra để nhằm bày tỏ cho nỗi buồn và hụt hẫng của mình sau khi đọc những quyển tiểu thuyết ấy mà thôi. Sau đây tôi xin mạn phép được nói rõ hơn vì sao tôi lại buồn và hụt hẫng. Tôi xin được trình lần lượt theo thứ tự giảm dần (nghĩa là tác giả và tác phẩm nào làm tôi buồn và hụt hẫng nhất tôi sẽ đề cập trước).
(Nhân đọc 4 tiểu thuyết đoạt giải Cuộc vận động sáng tác văn học tuổi 20 lần 4 năm 2010 do Hội nhà văn TP. HCM, báo Tuổi trẻ và Nhà xuất bản Trẻ tổ chức.) 1. Mở đầu
Tôi vốn rất có thiện cảm với các kì vận động sáng tác văn học tuổi 20 do Hội nhà văn TP Hồ Chí Minh, báo tuổi Trẻ và Nhà xuất bản Trẻ tổ chức. Theo tôi thì so với khá nhiều cuộc thi văn chương trên cả nước, tuy đây là cuộc thi chỉ mới trải qua 4 lần phát động (lần 1 năm 1995) nhưng đã gây được tiếng vang và uy tín trong lòng người đọc vì tính nghiêm túc trong cách làm việc của ban tổ chức cũng như thành phần ban giám khảo. Có thể nói, đây là cuộc thi mà sau mỗi lần tổng kết trao giải hiếm khi nghe dư luận lên tiếng về những chuyện “lùm xùm” kiện tụng đại loại như ban giám khảo (BGK) thiếu công tâm, thiên vị; trao giải theo kiểu “phân biệt vùng, miền” để rồi “quy hoạch giải thưởng” trước… như ở rất nhiều cuộc thi văn chương khác. Chính cách làm việc công tâm và trên hết là vì mục tiêu phát hiện và bồi dưỡng tài năng văn chương nước nhà của đơn vị tổ chức cũng như BGK, cho đến nay (sau mỗi lần phát động cuộc thi) đã cung cấp cho văn chương nước nhà những cây bút ít nhiều đã gây được tiếng vang trên văn đàn, tiêu biểu như: Nguyên Hương, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Ngọc Thuần, Dương Thụy, Phan Việt, Phong Điệp, Vũ Đình Giang, Phan Triều Hải…
Với niềm tin như thế thật lòng tôi cảm thấy háo hức khi ban tổ chức cuộc vận động sáng tác tuổi 20 lần 4 công bố giải thưởng năm nay (2/9/2010). Sau khi biết giải thưởng năm nay được trao cho nhiều cây bút trẻ ở thể loại tiểu thuyết như: Trương Anh Quốc (giải Nhất với tác phẩm Biển), Mai Anh Tuấn (giải Ba với tác phẩm Giảng đường yêu dấu, Thiên Di (giải Tư với tác phẩm Những giao diện ẩn) và Nguyễn Thiên Ngân (giải Tư với tác phẩm Những chuyển điệu) thật sự tôi rất lấy làm vui vì nghĩ rằng mình sắp được thưởng thức những “bữa tiệc văn chương” tuyệt vời và thú vị đây. Ấy vậy mà, sau một thời gian mệt nhoài “vật lộn” với hàng mấy trăm trang tiểu thuyết của các tác giả vừa kể ở trên trong hơn 10 ngày không hiểu sao khi buông trang cuối cùng của quyển “Giảng đường yêu dấu” (Mai Anh Tuấn) thì tự dưng câu thơ của nữ thi sĩ T.T.Kh trong bài Hai sắc hoa Tigôn ở đâu lại hiện về trong óc làm tôi phải thốt lên rằng:“Buồn quá, hôm nay xem tiểu thuyết!”.
2. Thiên Di và Những giao diện ẩn
Thoạt đầu có hai quyển làm tôi buồn và hụt hẫng nhất mà tôi rất phân vân không biết nên trình bày tác phẩm nào trước. Đó là cuốn Giảng đường yêu dấu của Mai Anh Tuấn và cuốn Những giao diện ẩn của Thiên Di. Sau một giờ “cân, đong, đo, đếm” rất khổ sở cuối cùng tôi quyết định “ưu tiên” trình bày sự thất vọng của mình về quyển Những giao diện ẩn của Thiên Di trước. Vì dù sao theo tôi cuốn Giảng đường yêu dấu của Mai Anh Tuấn có một ưu điểm rất đáng biểu dương so với tất cả cuốn còn lại là đó là tinh thần tìm tòi sáng tạo rất đáng trân trọng của tác giả. Tôi sẽ nói chuyện này sau bây giờ tôi xin trở lại với Thiên Di.
Đọc Những giao diện ẩn với Thiên Di xong tôi có tâm sự với một người bạn rằng tôi vốn rất thích, rất quý nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên; lẽ ra theo tôi, ông là một nhà phê bình văn học xuất sắc nếu đừng viết lời giới thiệu quá dài dòng về Thiên Di và Những giao diện ẩn. Thật ra, nếu ai có theo dõi trào lưu văn học trẻ (nhất là văn học mạng) của Trung Quốc hơn 10 năm trở lại đây cũng như một vài cây bút 8X của Việt Nam trên văn đàn hiện nay sẽ dễ dàng nhận ra Những giao diện ẩn là sự lặp lại không hơn không kém cách viết (cả về kết cấu, cách kể chuyện cho đến lối đặt tên nhân vật) của các cây bút Trung Quốc như: Vệ Tuệ, Dương Thụ, Trương Duyệt Nhiên, Bì Bì… Thú thật tôi vốn không có thiện cảm lắm với một số nhà văn trong dòng văn học này của cả Trung Quốc và Việt Nam. Bản thân tôi trước đây và bây giờ vẫn nghĩ rằng dòng văn học này sớm muộn cũng không trụ được lâu và những tác giả của nó sẽ nhanh chóng chìm vào quên lãng (hình như bây giờ đã bắt đầu có dấu hiệu ấy). Vì thế, khi đọc Những giao diện ẩn thấy Thiên Di rập khuôn theo họ làm tôi thấy lòng buồn vô hạn. Cái lối đặt tên nhân vật theo kiểu “tùy hứng lý qua cầu” của Thiên Di mà nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên cho là “khác lạ” thật ra chỉ là bản sao của không ít nhà văn Trung Quốc vừa kể ở trên. Nếu như Vệ Tuệ có các nhân vật như: Chó Điên, Cá Con (trong Tiếng kêu của bươm bướm) hay Chó Đen, Mắt Đẹp (trong Điên cuồng như Vệ Tuệ; ở Trương Duyệt Nhiên có Lụi Tàn (trong Lụi tàn)… thì trong Những giao diện ẩn của Thiên Di ta bắt gặp những Ngổ Ngáo, Cục Đất, Tử Tế, Cỏ Hoang, Bướng Bỉnh, Thiên Thần Kiến Cận, Nhóc Không Cười, Mặt Bẹt, Tham Vọng, Chị Gái FaShion, Chị Da Bánh Mật… Vẫn biết việc đặt tên nhân vật như thế nào là quyền của tác giả thế nhưng cách đặt tên như thế này tôi nghĩ Thiên Di đừng mong gì đến chuyện nhân vật của mình sống mãi tròng lòng người đọc.
Không dừng lại ở đó, đi vào tác phẩm dù phải công nhận là Thiên Di ngoài việc cố gắng tạo ra một bối cảnh, một không gian, không khí thuần Việt Nam để thuật lại câu chuyện của các nhân vật; tuy vậy toàn bộ tác phẩm vẫn là cái lối mòn nhàn nhạt về những “chuyện không đâu” phản ánh những suy nghĩ của “lớp người mới” thường thấy ở các nhà văn 7X, 8X, 9X cả Việt Nam và Trung Quốc đã và đang thể hiện. Có thể nói, đó là tiếng nói của “một lớp người trẻ” (nhất là những người trẻ đang sống ở những đô thị lớn) đang “tự đóng khung mình” để “tự khám phá bản thân” trước những biến chuyển của cuộc sống hiện đại mà không màng đến những người xung quanh nghĩ về mình như thế nào. Vẫn là cái giọng văn có vẻ bất cần đời của những “người trẻ” muốn được sống theo ý thích riêng của mình, muốn được tự do làm những điều mình nghĩ bằng mọi cách; vẫn là cái tâm lý chán trường học, ghét cuộc sống gò bó, giáo điều… Và ở đây dù nhà phà phê bình Phạm Xuân Nguyên có “thiện ý” bào chữa cho Thiên Di là “thành thực” trong cách viết đi nữa vẫn không thể nào cứu nỗi chị vì những “thể nghiệm” của chị (qua nhân vật Ngổ Ngáo) mà hậu quả của nó là một sai lầm chết người. Phạm Xuân Nguyên viết: “Cái chết của nhân vật Ngổ Ngáo bề ngoài là do chích thuốc và đua xe, nhưng đấy không phải do cô gái này đua đòi ăn chơi, mà thực ra là cô muốn hiểu rõ hơn cái cảm giác khi phê thuốc và nổi loạn của kẻ ăn chơi,“đi bụi”. Để làm gì cái hiểu ấy? Để không trở thành kẻ viết văn salon. Đó là một lựa chọn sống, một xác quyết, một thái độ văn, có thể là liều lĩnh, nhưng là thành thực(…) Nhân vật Ngổ Ngáo có thể coi là một thành công của người viết”[1].
Chỗ này cho phép tôi dừng lại trao đổi với nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên một chút. Theo thiển ý của tôi, nếu ông còn “cổ vũ” cho các nhà văn trẻ bằng cách chơi ma túy và đua xe để hiểu cảm giác thật của kẻ chơi ma túy và đua xe là như thế nào (như nhân vật Ngổ Ngáo trong tác phẩm này) và nhất là để không trở thành “nhà văn salon”, tôi e là xã hội này sẽ loạn đi mất. Tới đây tôi chợt nhớ đến trường hợp tương tự của nhân vật cô gái trong truyện ngắn Cô con gái ngỗ ngược của tác giả Võ Diệu Thanh (người đoạt giải Nhì với tập truyện cùng tên cũng trong cuộc thi lần này) vì cũng muốn “thấu hiểu” cảm giác và thân phận của những cô gái “bán hoa” đã quyết tâm chuẩn bị một hành trình cho một cuộc “trải nghiệm” thật (rất may cô gái trong truyện này phút cuối cùng đã kịp dừng lại). Chao ôi, thật là khủng khiếp quá, chẳng lẽ giới trẻ bây giờ muốn hiểu thế nào là cảm giác “thành thật” trong cuộc đời hay không muốn bị mang tiếng là “nhà văn salon” thì phải chơi ma túy, phải đua xe và thậm chí là… làm đĩ (xin lỗi bạn đọc) hết sao? Ôi thôi, cứ cái đà này – với cái cách “lựa chọn sống” kiểu này đến một lúc nào đó các bạn trẻ “nổi hứng” lên muốn “trải nghiệm” để hiểu rõ hơn cái cảm giác thật của những kẻ khủng bố và giết người hàng loạt trên thế giới hiện nay thì liệu không biết lúc ấy xã hội sẽ như thế nào nữa! Tôi cho rằng dù đây là một lối nghĩ “thành thật” hay “một lựa chọn sống, một xác quyết, một thái độ văn…” gì đi nữa cũng là rất ấu trĩ và hoàn toàn sai lầm. Người ta có rất nhiều cách hay để trải nghiệm cuộc sống phục vụ cho việc viết văn. Các nhà văn trẻ muốn hiểu điều này theo tôi nên đọc lại thiên tài Vũ Trọng Phụng vì trước năm 1945 nhà văn của chúng ta khi ấy cũng còn rất trẻ đã viết một tiểu thuyết có tên là “Làm đĩ”. Tôi chắc rằng để viết tác phẩm này nhà văn của chúng ta không phải “bán mình” để “trải nghiệm” qua cái “cảm giác thật” mà viết đâu.
Trong Những giao diện ẩn ta còn bắt gặp cách Thiên Di đặt vào miệng các nhân vật (vốn có tuổi đời còn rất trẻ) những lời thoại mang tính “triết lý” và “khái quát” một cách rất gượng gạo như thể họ đã trải, đã hiểu, đã rành cuộc sống này, cuộc đời này như lòng bàn tay mình vậy. Đây có thể nói là điều không chỉ mình Thiên Di mà nhiều cây bút 8X, 9X… hiện nay cũng rất hay vướng phải; cứ nghĩ mình sắp lên hàng… “triết gia” hết rồi. Tôi liệt kê ra đây một vài trường hợp để mọi người cùng đọc và suy ngẫm:
- “Một lần, đọc một cuốn sách về “luân hồi”, tôi cứ ngờ ngợ mãi không biết kiếp trước tôi có tham gia vào vụ án “đốt di cảo của Nguyễn Trãi” hay không mà kiếp này lại dính vào nghiệp viết”. (trang 28)
- “Tao không biết mày nghĩ gì, chứ tao, tao chỉ nghĩ con người cứ tưởng các mối quan hệ xung quanh đang ràng buột mình nhưng thực ra là tự bản thân họ buộc mình với những mối quan hệ”. (trang 32)
- “Tao không phải đá sỏi. Hơn nữa, người ta không nhìn thấy đá sỏi khóc nên tưởng nó không biết khóc thôi”. (trang 35)
- “Thời buổi này, con trai con gái thấy nhau thì hút lấy nhau. Ngủ với nhau một đêm cũng đã không còn gì là to tát”. (trang 47)
Không biết bạn đọc nghĩ gì về những câu mang tính “khái quát” cuộc sống mang màu sắc “triết lý” ở trên chứ riêng tôi, tôi không có cảm tình lắm. Cho phép tôi được bình luận trường hợp Thiên Di “triết lý” về chuyện “luân hồi” mà cô đã “khái quát” rằng “không biết kiếp trước tôi có tham gia vào vụ án “đốt di cảo của Nguyễn Trãi” hay không mà kiếp này lại dính vào nghiệp viết”. Ơ hay, văn chương chữ nghĩa vốn là chuyện rất Thiêng Liêng và Cao Quý; người viết văn vốn cũng đang làm công việc rất Thiêng Liêng và Cao Quý; còn chuyện“đốt di cảo của Nguyễn Trãi” là một tội ác tày đình vì Nguyễn Trãi đã được minh oan sau vụ “Lệ Chi viên”; là danh nhân văn hóa của dân tộc và thế giới. Tôi nghĩ nếu thật sự có chuyện “luân hồi” và “nghiệp báo” thì những ai phạm tội “đốt di cảo của Nguyễn Trãi” có khi phải bị đày xuống 18 tầng địa ngục chứ làm gì có chuyện cho đầu thay trở lại làm người mà viết văn, viết sách! Thiên Di và các bạn nhà văn trẻ ơi xin tỉnh táo lại một chút đi. Văn chương là chuyện không thể đùa giỡn được đâu. Đừng có ảo tưởng!
Nhân đây tôi cũng xin nói thật là khi bắt đầu đọc những dòng đầu tiên của Những giao diện ẩn tôi đã phát hiện ra tất cả những điều trên nhưng tôi vẫn cố gắng đọc trọn vẹn tác phẩm để nhằm kiểm chứng lại những dự đoán ban đầu này của mình cũng như thầm hi vọng tác giả có mở ra một “giao diện” nào mới không? Và nhất là chúng ta phải đọc trọn vẹn tác phẩm để thể hiện sự tri ân người viết vì dù sao họ cũng đã cố gắng hoàn thành phận sự của một người sáng tác, tạo ra tác phẩm chia sẻ với người đọc những điều họ nghĩ, họ trăn trở. Phải chăng nhờ tôi kiên trì mà Những giao diện ẩn cuối cùng cũng đã hiện ra một vài chỗ ít nhiều để lại cho tôi một ấn tượng dù là rất… “bình dị”. Thứ nhất, Những giao diện ẩn đã không rơi vào miêu tả sex như kiểu chúng ta vẫn thường thấy ở những tác phẩm viết theo lối này của các nhà văn Trung Quốc lẫn Việt Nam. Thiên Di theo tôi đã biết tiết chế và dừng lại đúng lúc, điều này thể hiện bản lĩnh văn hóa của một cây bút trẻ. Dù cho tác phẩm ta thế nào đi nữa chứ quyết không “PR”, không lôi kéo độc giả bằng sex như không ít các cây bút trên văn đàn đã và đang làm. Thứ nữa, phải kể đến sự cố gắng của tác giả ở khả năng sáng tạo và tưởng tượng về một “thế giới bên kia” của những linh hồn chết trẻ đang vật vờ tại “giao lộ” Trung Gian để nhìn về (chính xác hơn là “nhìn lại”) cuộc sống sôi động và giả tạo của con người trong cõi nhân gian hiện hữu mà chính họ đã từng một lần rong chơi. Những giao diện ẩn của Thiên Di phải chăng là ở những điểm này? Nếu đúng như vậy thì thật là tiếc cho Thiên Di, phải chi chị đừng chọn lối viết rập khuôn theo các cây bút Trung Quốc và nhất là đừng cố tỏ ra mình “sành đời” và nắm rõ quy luật cuộc sống như lòng bàn tay như phần đông các nhà văn trẻ hiện nay thì hay biết dường nào.
Thôi thì, trước khi kết thúc phần nói về Thiên Di và Những giao diện ẩn, tôi xin phép được đính chính lại nhận xét ban đầu của tôi về nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên mà tôi đã đề cập ở trên. Thật lòng tôi vẫn thấy ông là một trong những nhà phê bình xuất sắc nhất hiện nay. Trong lời giới thiệu của ông về tiểu thuyết Những giao diện ẩn của Thiên Di có câu kết rằng: “Tôi có niềm tin mong manh là tác giả này sẽ còn đi tiếp trên con đường văn chương đã mở ra từ sách này…”. Tôi thật sự thích cách nói “niềm tin mong manh…” của ông, nói như thế kể ra cũng tinh tế và khéo léo. 3. Mai Anh Tuấn và Giảng đường yêu dấu
Phần nói về Thiên Di trên kia tôi có đề cập đến sự “giằng co” của tôi về Thiên Di và Mai Anh Tuấn. Và sở dĩ tôi trình bày nỗi buồn và sự hụt hẫng của mình về Giảng đường yêu dấu sau Những giao diện ẩn là vì tôi đồng tình với tiến sĩ Nguyễn Thành Thi (trong lời giới thiệu tác phẩm này) đã nhận xét: “Đọc tác phẩm, độc giả dễ dàng nhận thấy việc lồng “phim” vào tiểu thuyết là một thể nghiệm táo bạo và khá chắc tay của tác giả tiểu thuyết này”[2].
Ở điểm này chúng ta phải nói lời khen Mai Anh Tuấn thôi. Cách thể nghiệm này tuy là làm người đọc có hơi mệt nhưng thật sự rất lôi cuốn và hấp dẫn. Đúng là một sự táo bạo và rất có bản lĩnh của người viết, xin chúc mừng Mai Anh Tuấn ở điểm này vậy.
Nhưng mà đáng tiếc là chỉ có điểm này là đáng biểu dương thôi Mai Anh Tuấn ơi. Bởi dù sao theo tôi thì viết tiểu thuyết mà chỉ đăm đăm chú ý đến “kỹ thuật”, đến cái vỏ “hình thức” đơn thuần mà không quan tâm đến việc sẽ cho người đọc thấy cái chiều sâu tư tưởng của người viết thì cũng hỏng. Cái tham vọng “truyện lồng phim” của người viết, sự tham lam muốn “vừa làm giảng viên vừa làm nhà biên kịch” của nhân vật chính ít nhiều đã làm cho tác giả Giảng đường yêu dấu bị… rối, đưa đến hệ quả là làm cho người đọc bị… mệt. Ngẫm kĩ lại Giảng đường yêu dấu không có gì nổi bật ngoài những dòng cảm xúc lan man không đầu không cuối của một anh giáo viên đang chuẩn bị cho giờ lên lớp đầu tiên ở giảng đường đại học. Tâm lý thông thường trong thời khắc này của người thầy giáo lẽ ra, nên nghĩ về những tri thức và phương pháp mà mình sắp truyền đạt lại cho học trò với tư cách là một giảng viên trẻ thì sẽ hợp lý hơn. Đằng này trước cái ngưỡng cửa chuẩn bị làm “thầy thiên hạ” anh giảng viên trẻ lại lan man suy nghĩ những chuyện… tầm phào. Logic tâm lý này thật không ổn cho lắm. Đó là chưa kể những dòng hồi ức, những dòng kỉ niệm về những người bạn của nhân vật chính tuy là có đẹp thật nhưng sao mà giống với suy nghĩ của các em học sinh trên báo… “Áo trắng” hay “Mực tím” quá. Với những dòng này xem ra tác giả Giảng đường yêu dấu còn nặng về “sách vở”. Trong khi đó những dòng hồi ức về quá trình lăn lộn dạy học của nhân vật chính khi còn ở vùng núi xa xôi nào đó trong Giảng đường yêu dấu lại cho thấy tác giả có vẻ rất “chăm đọc” Nguyễn Huy Thiệp. Nguyễn Huy Thiệp quá hay, quá nổi tiếng rồi chăm đọc là đúng thôi. Nhưng mà đọc để học hỏi, để rút kinh nghiệm; đọc để xem người ta đã viết những chuyện gì rồi để tránh chứ không phải đọc để rồi bị cuốn vào và không thoát ra được. Cho nên nhìn kỹ lại những chỗ này giọng điệu của Giảng đường yêu dấu sao mà giống với“Những người muôn năm cũ” hay “Sống dễ lắm” của Nguyễn Huy Thiệp quá.
Mà thôi, những chuyện như thế dù sao cũng thông cảm được bởi lý do là người viết còn trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống như lời của tiến sĩ Nguyễn Thành Thi đã nhận xét trong bài giới thiệu. Thế nhưng, để văn chương nghệ thuật bị “vấy bẩn” bởi những ngôn từ thô tục thiếu kiểm soát như các câu văn dưới đây thì khó mà chấp nhận được. Xin dẫn ra đây vài ví dụ tiêu biểu sau:
- “Từ mà giáo sư Dân nói, khi đưa vào kịch bản của Phan sau này, Phan đã sửa chữa cho ngắn lại nhưng vẫn giữ nguyên ý: em có thể mút buồi anh được không?” (trang 29)
- “Tháng thứ hai họ viết thư tỏ tình thầy giáo Phẩm. Con gái Ô Hóa thì ngực em tuyết lê, bồng đảo thậm chí là núi đôi tên một bài thơ nổi tiếng thay vì chuẩn chung là vú. Con trai Ô hóa thì chim cò cu buồi dái thay vì quy định đúng là dương vật”. (trang 65)
Thú thật, tôi trích dẫn lại những dòng ở trên mà tay cứ run run vì tuy là lặp lại câu văn của tác giả nhưng thực tế thì tay tôi đã phải trực tiếp gõ trên bàn phím từng từ, từng chữ thô thiển ấy. Thật lòng tôi thấy ngượng lắm nhưng không biết tác giả khi viết những dòng ấy có ngượng như tôi không? Chi vậy Mai Anh Tuấn? Tôi nghĩ nếu cắt bỏ những dòng văn trên không những không ảnh hưởng gì đến ý đồ nghệ thuật của tác giả mà còn làm cho tác phẩm thêm phần trong sáng và “nghệ thuật” hơn.
Nếu tôi nhớ không lầm trong giới phê bình ta hiện nay thì nhà phê bình Nguyễn Hòa đã không ít lần lên tiếng cảnh báo các nhà văn, nhà thơ (nhất là những người trẻ) là ông vốn rất “dị ứng” với thứ “ngôn từ bẩn” như thế trong văn chương. Chỗ này thú thật là tôi cũng có cùng suy nghĩ với nhà phê bình Nguyễn Hòa, vì thế đọc Giảng đường yêu dấu và biết tác giả cũng là một giáo viên mà lại đưa những câu văn, những hình ảnh bẩn thỉu như thế (dù là để minh họa hay phản ánh thực tế trần trụi mà tác giả đã từng chứng kiến đi chăng nữa) tôi thấy quả là đáng tiếc lắm thay. Ai lại đi (và nỡ lòng nào) hành xử một cách “trần trụi” và xúc phạm văn chương nghệ thuật như thế? Đó là chưa nói nhiều chỗ khi viết tác giả còn “pha” ngôn ngữ mạng vào làm cho ngôn ngữ toàn tác phẩm đôi khi bị “sọc dưa” rất khó coi nữa.
Cho nên mới nói, với Giảng đường yêu dấu, tôi đành phải nói rằng Mai Anh Tuấn mới chỉ là anh học trò vừa hết tuổi “áo trắng” đang bước những bước đi đầy rụt rè vào cái ngưỡng chuẩn bị làm thầy những cô cậu “áo trắng” khác mà thôi. Mà xem ra giảng viên trẻ này cũng bị tâm lý dữ lắm. Vì trước giờ lên lớp mà đầu óc cứ để ở đâu đâu, không tập trung suy nghĩ cho thật rõ ràng, cụ thể, thấu đáo, cho có lớp lang, bài bản một vấn đề gì hết. Lại thêm, việc làm thầy chưa biết thế nào mà còn định kiêm thêm làm nhà biên kịch nữa; và dù là chuẩn bị làm “thầy thiên hạ” rồi mà vẫn chưa thấy “lớn” chút nào trong xưng hô và nói năng. Phải chăng vì thế mà dù Giảng đường yêu dấu có ưu điểm là “kỹ thuật viết” tiểu thuyết khá hấp dẫn nhưng lại thiếu một chiều sâu và “độ chín” trong suy nghĩ; sự khát khao, sẵn sàng dấn thân để chinh phục mục tiêu lớn lao, cụ thể nào đó của những người trẻ. 4. Nguyễn Thiên Ngân và Những chuyển điệu
Bây giờ tôi sẽ tiếp tục trình bày nỗi buồn và sự hụt hẫng của mình về 2 quyển tiểu thuyết còn lại đó là: Biển của Trương Anh Quốc và Những chuyển điệu của Nguyễn Thiên Ngân. Biển đoạt giải Nhất, Những chuyển điệu đoạt giải Tư điều này cũng có nghĩa theo BGK Biển xuất sắc hơn. Tôi đồng ý với BGK cuộc thi về đánh giá này. Vậy nên, tôi sẽ nói về Những chuyển điệu trước.
So với Những giao diện ẩn của Thiên Di, Những chuyển điệu không bị sa vào lối mòn trong cách viết, cách kể chuyện hay đặt tên nhân vật kiểu “vô tội vạ” của các cây bút 7X, 8X, 9X… hiện nay. Tuy vậy, cũng giống như Thiên Di trong Những giao diện ẩn, Những chuyển điệu của Nguyễn Thiên Ngân cũng là câu chuyện về “thế giới riêng” của những bạn trẻ đang vật vã chống chọi với cuộc sống hiện đại bằng cách cố dựng lên những “thành trì” để “tự đóng khung” mình lại với thế giới bên ngoài. Nếu như Thiên Di trong Những giao diện ẩn chọn cách giải quyết để cho nhân vật của mình “về thế giới bên kia” để nhìn lại “thế giới bên này” mà mình từng tồn tại để lý giải cho những nỗi cô đơn của lớp trẻ thì Nguyễn Thiên Ngân lại bắt các nhân vật chới với, hụt hẫng, cô đơn trong một tình yêu tuyệt vọng; hay thậm chí là sẵn sàng phiêu lưu vào cả tình yêu đồng giới. Ở khía cạnh nào đó có thể nói, các nhân vật trong Những chuyển điệu của Nguyễn Thiên Ngân ít nhiều cũng cho thấy một cá tính và bản lĩnh khi âm thầm chịu đựng những nỗi bất hạnh bất ngờ ập xuống đời họ. Tình yêu trong Những chuyển điệu cũng được Nguyễn Thiên Ngân thể hiện khá đẹp và lãng mạn. Tuy vậy, vì lãng mạn quá nên nhiều khi tình yêu trong Những chuyển điệu có nhiều chỗ giống như trong những bộ phim Hàn Quốc đang chiếu nhan nhãn trên ti vi. Ấy là chưa kể đến sự “sắp đặt” và “dàn dựng” có phần gượng gạo của tác giả khi cố tình tạo ra một gã đàn ông ngoại quốc mang “bản chất quỷ quyệt trong sự cao thượng”. Chi tiết gã đàn ông ngoại quốc - với tư cách một người chồng cố tình “tạo điều kiện thuận lợi” để vợ và người tình của vợ có những chuyến phiêu lưu tình ái sao mà… “tiểu thuyết” quá, không “đời” chút nào. Để sỉ nhục và hành hạ tinh thần vợ và người tình của vợ thì tưởng tượng ra cảnh huống này kể cũng “có đầu tư suy nghĩ” nhưng mà đáng tiếc là Thiên Ngân không thật chắc tay khi đặt vào miệng các nhân vật những lời thoại quá “hoa mĩ” và “trí thức” khi cả 3 gặp nhau ở khách sạn – nơi vợ và người tình của vợ hẹn hò. Một cú đấm như trời giáng của người chồng, một cuộc vật lộn giữa hai người đàn ông đến đổ máu trong khi cô gái vì không cản được nên đã nhảy lầu tự tử, hay bỏ chạy mất hút; hai gã đàn ông sau cuộc “quần thảo” buông nhau ra, cả hai nhìn nhau vừa chua xót, vừa bực tức, vừa nghẹn ngào, vừa hối hận vì đã để người mình yêu ra nông nỗi ấy… có lẽ sẽ hợp tình, hợp cảnh hơn chăng? Mô típ này xem ra cũng sáo mòn nhưng mà vẫn đỡ hơn là nghe gã đàn ông nói lời “hoa mĩ” trong hoàn cảnh không thể nào “dịu dàng” cho được!
Có thể thấy cách Nguyễn Thiên Ngân để cho các nhân vật của mình trong Những chuyển điệu phiêu lưu vào những cuộc tình vô vọng để rồi cuối cùng ôm lấy khổ đau cho thấy tác giả có suy nghĩ và cách nhìn khá rối rắm, luẩn quẩn, chưa thật chững chạc, chưa thật “người lớn”. Một cuốn tiểu thuyết có đến 168 trang giấy mà tác giả của nó chỉ quanh quẩn kể lại nỗi khổ đau vì không được yêu của hai người bạn trẻ rồi cuối cùng cũng không khái quát thành vấn đề gì kể ra là… quá hoang phí giấy in và chữ nghĩa. Đồng ý là bây giờ tuy có một bộ phận nào đó các bạn trẻ rơi vào trạng thái “khủng hoảng” vì nhịp điệu của cuộc sống hiện đại đầy bất trắc nhưng cũng còn rất nhiều người rất năng động, rất thông minh, rất bản lĩnh và tự tin khi đương đầu với những vấp ngã, những khó khăn trên đường đời. Để cho những bạn trẻ “tự đóng khung”, “tự gặm nhấm” nỗi buồn và cho rằng “thế giới người lớn” bây giờ hoàn toàn không hiểu gì về “thế giới người trẻ” rồi muốn làm gì thì làm kiểu như Thiên Di là một cách nghĩ sai lầm. Còn để cho các bạn trẻ suốt ngày vẩn vơ đau khổ vì mãi chạy theo những mối tình vô vọng như kiểu Nguyễn Thiên Ngân là cách nghĩ vừa phiến diện vừa mang đậm màu “cải lương”. Tóm lại, muốn thay mặt những người trẻ nói lên “tiếng nói của thế hệ”, tôi cho rằng cả Thiên Di và Nguyễn Thiên Ngân cần thiết phải mở to và phóng tầm mắt xa hơn nữa để quan sát cuộc sống này cho thật kỹ, khi ấy mới hi vọng có thể khái quát lên một vài điều gì đó có ý nghĩa. Ai cũng cũng biết đời người vốn rất ngắn ngủi vì thế, đừng nên phung phí thời gian vào những suy nghĩ và việc làm không đâu.
5. Trương Anh Quốc và Biển
Trương Anh Quốc là người đoạt giải nhất với tác phẩm Biển mọi người đã biết rồi vì giải thưởng cũng đã trao rồi. Trong tương quan giữa những tiểu thuyết trong cuộc thi này thì việc trao giải nhất cho Biển là chính xác. Thế nhưng với cá nhân tôi, khi đọc xong Biển - quyển tiểu thuyết dày nhất so với 3 quyển còn lại (273 trang) thú thật tôi có cảm giác mình bị Trương Anh Quốc “chơi” một vố khá đau. Tôi không phủ nhận so với 3 cây bút tiểu thuyết đoạt giải còn lại Trương Anh Quốc là người trải đời, kinh nghiệm và già dặn hơn cả. Bởi dù sao Trương Anh Quốc cũng là một người quen năm cũ, nghe đâu đã từng đoạt giải nhì trong cuộc thi lần 3. Trước khi lang thang trên biển cùng Trương Anh Quốc tôi có hơi e dè vì độ dày của Biển. Càng e dè hơn khi đọc lời giới thiệu như thể vừa “cảnh báo” vừa “mời mọc” của nhà văn Nguyên Ngọc – một trong những thành viên BGK. Nhà văn Nguyên Ngọc có nói đại khái là đọc những trang đầu của Biển rất dễ làm người ta chán nhưng càng đi sâu vào càng bị cuốn hút. Tin sự “cuốn hút” ấy nên sau những lần chán nãn ban đầu tôi phải “vật vã” trong 5 ngày mới hoàn thành “cuộc phiêu lưu” trên biển vừa xa xôi, vừa mông lung với Trương Anh Quốc. Ngày cuối cùng khi tàu của Trương Anh Quốc cập cảng để đưa tôi trở lại đất liền lúc ấy, tôi mới thực sự “hoàng hồn”; tôi vừa thầm cảm ơn vừa thầm trách nhà văn Nguyên Ngọc đã “xúi” tôi “đi biển” với Trương Anh Quốc. Cảm ơn là vì chuyến đi biển ấy tôi được Trương Anh Quốc cung cấp thêm nhiều cứ liệu văn hóa và tôn giáo của khá nhiều nước trên thế giới rất hay và bổ ích. Con trách là vì nhà văn Nguyên Ngọc không báo trước cho tôi biết Biển của Trương Anh Quốc có nhiều chỗ tuy lạ mà quen, tuy xa mà gần. Cái “không gian hẹp kín và khắc nghiệt” (chữ dùng của nhà văn Nguyên Ngọc) trên tàu là cái lạ, cái sáng tạo của Biển để qua đó Trương Anh Quốc bộc lộ “ý đồ” (được che đậy rất khéo léo bởi lớp áo văn hóa và tôn giáo của nhiều quốc gia mà tác giả đã rất kỳ công tìm hiểu) nghệ thuật của mình. Thế nhưng, cũng chính vì không gian quá “hẹp kín” cũng như vì quá kì công cho cuộc “khảo sát” văn hóa và tôn giáo các nước trên thế giới nên “ý đồ” của tác giả vô tình đã bị lộ. Hơn nữa cái “ý đồ” ấy ngẫm kĩ cũng không có gì là mới. Những chuyện xung đột, mâu thuẫn theo kiểu bằng mặt không bằng lòng giữa “cấp dưới” và “cấp trên”; “cấp trên” bất tài vô dụng nhưng thường ngồi vững vàng trên “ghế cao”; “cấp trên” không biết nhìn người, không biết quản lý chỉ biết ngồi chỉ tay năm ngón nhưng lại đầy quyền uy lẫn quyền lợi; còn “cấp dưới” có năng lực nhưng bộc trực, thẳng thắng quá nên bị trù dập; hay cũng có “cấp dưới” tuy cũng bất tài nhưng khéo xu nịnh, bợ đỡ để được thăng tiến v.v và v.v.. thực ra là điều quá xá là quen, quá xá là cũ. Có thể nói, “cái không gian hẹp kín” giờ đây vô tình đã hại Trương Anh Quốc. Vì “hẹp” và “kín” quá nên tác giả cũng không nhìn thấy gì nhiều. Cho nên với Biển tôi cho rằng Trương Anh Quốc đã làm người đọc mất thời gian quá. Lẽ ra anh nên chuyên tâm chọn một trong hai, hoặc là khám phá văn hóa và tôn giáo các nước trên thế giới, hoặc là khám phá những điều bí mật ngàn năm của biển xanh mênh mông khôn cùng thì chắc là thú vị hơn. Thêm nữa, suốt hàng mấy trăm trang sách nhưng tác giả không hề để lại một ấn tượng gì về tính cách riêng độc đáo của bất cứ nhân vật nào. Ngay cả cách đặt tên nhân vật sao cho thật ấn tượng cũng không thấy. Máy Hai, Máy Ba, Máy Tư… là gì? Ừ thì là tên nhân vật nhưng đọc xong rồi người đọc sẽ quên ngay thôi vì không biết Máy Hai, Máy Ba, Máy Tư… gì gì đó có số phận và tính cách cụ thể như thế nào. Không khắc họa rõ nét ai cả mà cứ kể chuyện đều đều nhưng toàn những chuyện “đấu đá” quen thuộc trên đất liền làm cho người đọc càng thêm mệt nhoài. Bảo rằng biển mình đẹp, biển mình hấp dẫn nhưng chỉ sau một lần ra thăm biển người ta không còn tha thiết, không còn hứng thú trở lại nữa, vì thế, nhất thiết phải xem lại “cái sự đẹp” của mình thôi.
Nói tóm lại, sau 5 ngày phiêu lưu trên biển cùng Trương Anh Quốc tôi phải thừa nhận Biển ít nhiều đã đem đến cho tôi những điều thú vị. Tuy nhiên, cũng như các quyển tiểu thuyết trước, tôi vẫn cho rằng Biển của Trương Anh Quốc vẫn còn thiếu một tầm nhìn khái quát về cuộc sống; càng không cho thấy một tư tưởng mới mẻ hay độc đáo gì nơi người viết. Viết văn (nhất là viết tiểu thuyết) mà không có tư tưởng chỉ tổ làm mất thời gian và mệt óc người đọc.
6. Thay lời kết
Thật tình là sau khi đọc xong các tác phẩm trên lúc đầu tôi cũng có ý buồn và trách BGK sao lại trao thưởng cho những tác phẩm “thường thường bậc trung” như thế; văn chương tầm này làm tôi phải tự hỏi liệu có thể đại diện cho văn học nước nhà những năm đầu thế kỷ XXI bước ra giao lưu với thế giới được không? Thế nhưng, khi bình tĩnh lại tôi thấy mình cũng không phải. Có khi tôi đã trách lầm BGK rồi chăng vì thực tế cuộc thi lần này chất lượng tác phẩm cao nhất cũng chỉ có thế! Đến đây thì tôi không còn buồn BGK nữa (họa chăng nếu còn thì chỉ một chút thôi ấy là vì các vị trong BGK đã viết lời “tiếp thị” ở mỗi tác phẩm đoạt giải có hơi bị quá dài và… quá lời làm cho tôi và có lẽ không ít bạn đọc khác nữa bị lừa?) mà bỗng dưng thấy buồn cho văn học nước nhà. Chao ôi, một câu hỏi rất cũ:“Văn học Việt Nam đến bao giờ mới có tác phẩm lớn?” của cha ông đặt ra khá lâu rồi mà đến năm 2010 này con cháu vẫn chưa có lời giải đáp. Và đáng buồn hơn nữa là con cháu đến giờ không những không giải đáp nổi mà ngày càng có xu hướng thụt lùi hơn so với cha ông trước đó. Sở dĩ tôi nói điều này là vì tôi cho rằng (cũng như nhiều nhà phê bình đã từng nói) nếu tính từ năm 1986 – cột mốc đánh dấu sự đổi mới của văn học nước nhà, chúng ta đã có những tác phẩm rất xuất sắc như: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Bến không chồng (Dương Hướng), một số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp… có thể xem là những tác phẩm có thể đại diện cho văn học nước nhà bước đầu có thể “đi ra thế giới”. Thế nhưng, nếu tính từ năm 2000 đến nay (2010) văn học nước nhà may lắm có thêm Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư (2005) là đạt tới trình độ ấy.
***
Tôi vốn rất trân trọng các cây bút trẻ bởi qua các tác phẩm họ viết ít nhiều đã cho thấy lòng nhiệt thành và niềm đam mê sáng tạo văn chương nghệ thuật rất đáng quý. Tuy nhiên, viết văn nhất là viết tiểu thuyết mà chỉ có lòng nhiệt thành và đam mê thôi vẫn là chưa đủ. Còn một trong nhiều yếu tố nữa mà theo tôi là rất quan trọng đó là tầm nhìn, vốn sống - vốn văn hóa của bản thân người viết. Nếu như chúng ta sinh ra không phải là một thiên tài văn chương thì nhất thiết phải không ngừng trau dồi vốn sống – vốn văn hóa của bản thân để từ đó kết hợp với lòng nhiệt thành, sự đam mê thì mới mong, mới hi vọng có thể viết được vài ba trang văn nào đó có ý nghĩa để lại cho đời. Thế thì vấn đề đặt ra là vốn sống – vốn văn hóa làm sao mà có được? Điều này rõ ràng phụ thuộc hoàn toàn vào sự chăm chỉ lao động của bản thân mỗi người trên cánh đồng nghệ thuật của mình. Tuy vậy, thiết nghĩ cũng nên biết một kinh nghiệm là “chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép” – nhà thơ Chế Lan Viên đã từng chỉ cách trau dồi vốn sống rất hay như thế. Cho nên, theo tôi các bạn nhà văn trẻ nên học tập điều này; phải biết trải lòng ra để sống với mọi người, phải phóng tầm mắt xa hơn nữa để quan sát cuộc đời bằng một trái tim luôn hướng về điều thiện thì khi đó may ra mới có thể theo nghiệp văn chương vốn rất Thiêng Liêng và Cao Cả này.
Kết lại bài viết này, thật lòng muốn nói rằng, không phải tôi không có niềm tin vào những người viết văn trẻ hiện nay nhưng tôi cho rằng để có thể làm được điều mà thế hệ cha anh kì vọng, các cây bút trẻ trước hết cần phải hết sức “tỉnh táo” trước bất cứ một giải thưởng nào đó để không tự huyễn hoặc mình. Kế nữa là phải có cái nhìn thật rộng, thật sâu và thật xa hơn nữa những vấn đề về hiện thực cuộc sống và con người đang hàng ngày hàng giờ đầy sôi động và biến chuyển ngoài kia (công bằng mà nói Biển của Trương Anh Quốc và Giảng đường yêu dấu của Mai Anh Tuấn hoàn toàn có thể trở thành những “tác phẩm lớn” nếu hai tác giả này chăm chút đầu tư kỹ hơn nữa để có những đột phá trong cách tư duy về cuộc sống để tránh rơi vào lối mòn; cũng như đừng quá tham lam đưa đưa tất cả những gì mình thấy vào trong tác phẩm mà phải biết chọn lọc và tập trung xoáy sâu vào một hay một vài vấn đề hiện thực tiêu biểu, điển hình nhất…). Anh cứ thoải mái viết về bất cứ đề tài nào anh thích, cứ thoải mái thể nghiệm bất cứ “kỹ thuật” viết nào anh thấy cần nhưng với điều kiện là cuối cùng phải khái quát lên cho người đọc thấy được anh muốn trình bày vấn đề gì, tư tưởng gì mới mẻ và độc đáo khi kết thúc tác phẩm của mình.
Vĩnh Long, 12/10/2010
Nguyễn Trọng Bình
[1] Phạm Xuân Nguyên trong bài Có một giao diện văn chương (lời giới thiệu tiểu thuyết Những giao diện ẩn).
[2] Nguyễn Thành Thi trong bài Một nghệ thuật viết táo bạo (lời giới thiệu tiểu thuyết Giảng đường yêu dấu).
URL của bản tin này::http://nguoibanduong.net/index.php?nv=News&at=article&sid=5201
© Hội Văn học Nghệ thuật VN tại LB Nga contact: info@nguoibanduong.net
|
| Vè Thái Bình |
Viết bởi buthaiminh 21:44 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (1) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
TIN VĂN NGHỆ |
|
Đất ăn chơi
Ba vị Nguyễn Công Viễn – Nguyễn Công Hiển – Đoàn Duy Hiền người Thái Bình đi chu du thiên hạ bị người ta đọc vè Thái Bình chế diễu, rằng:
“Thái Bình có cái cầu Bo / Có nhà máy Cháo , có lò đúc muôi / Tháng ba ngày tám rong chơi / Chu du thiên hạ cho đời đổi thay / Có “vali cói” cầm tay / Nón giang gậy trúc thẳng ngay lên đường / Tung hoành đi khắp bốn phương / Giơ tay hứng lấy tình thương đồng bào / Năm xu cho chí một hào / Củ khoai vốc gạo cho vào “vali” / Thái Bình , ta rủ nhau đi !!!”
Tức máu các vị làm bài vè đối lại. Theo yêu cầu của các vị, tôi đưa ra để các bạn thưởng thức.
Thái Bình có cái cầu Bo ,
Có trạng Bắc Quốc (1) , có pho thần đồng (2).
Năm mươi bộ sách của ông , Chuyển giao hậu thế ghi công tỉnh nhà !
Đại khoa Văn Miếu tỉnh ta
Có trên trăm vị (3) quả là quá đông !
Ba lần thắng giặc Nguyên Mông
“ Sơn hà thiên cổ” chiến công để đời (4)
“ Ông cố vấn” (5) đã một thời
Tình báo chiến lược giữa nơi “ bệ rồng”
Biệt tài lấy đấu mà đong
Bay vào vũ trụ cũng không là gì(6)
Thái Bình võ nghệ ai bì
Song phi , xuống tấn giặc quỳ xin tha !
Thế gian nổi tiếng đàn bà(7) ,
Tay không bắt giặc mới là tay chơi !
Thái Bình nổi tiếng ăn chơi
Phất cờ Năm Tấn(8) khắp nơi tung hoành
Quát tướng Đờ-cát mắt xanh(9)
Làm chấn động cả kinh thành Pa-ri !!!
Nối liền dải đất ba Kỳ
Hạ cờ Ba Sọc cho đi chầu trời !!! (10)
Thời đổi mới càng ăn chơi
Điện – đường – trường – trạm quê tôi đi đầu
Chống tham nhũng kém ai đâu
Không phát mà động dẫn đầu cuộc chơi !
Thái Bình chơi kiểu khác đời
Chơi ghi sử sách , đâu chơi làng nhàng .
Chơi cho lịch sử sang trang
Cho lịch sử tạc trang VÀNG quê tôi
Thái Bình vẫn tiếp ăn chơi …
Chú thích :
(1) Nguyễn Cần , người xứ Đa Dực thuộc huyện Phụ Dực ( cũ ) , nay là huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình , đỗ Trạng nguyên bên Tàu năm 1454 . đời nhà Minh . Ông là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất (cho đến nay ) được ghi tên trong Khổng Miếu Bắc Kinh .
(2) Nhà Bác học Lê Quý Đôn ( 1726 – 1784 ) người làng Phú Hiếu , xã Độc Lập , huyện Hưng Hà , tỉnh Thái Bình . Ông nổi tiếng thần đồng năm 7-8 tuổi với bài thơ xuất khẩu ,câu nào cũng có “rắn” . Nhà bác học đã để lại cho đời trên 50 bộ sách Khoa học và Thiên văn học
(3) Trong danh nhân khoa bảng bằng chữ Nho cả nước có gần 1000 người đỗ đại khoa thì riêng Thái Bình có tới 111 người
(4) Thế kỷ thứ XIII , Thái Bình trở thành đất phát vương của nhà Trần . Sau 3 lần thắng Nguyên Mông , tại đất phát vương này khi trông thấy con ngựa đá bị lấm chân , Trần Nhân Tông ( 1278 – 1293 ) đã bật ra 2 câu thơ bất hủ : “ Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã / Sơn hà thiên cổ điện kim âu” (đất nước hai phen chồn ngựa đá / non sông ngàn thuở vững âu vàng )
(5) Nhà tình báo chiến lược Vũ Ngọc Nhạ đã một thời làm cố vấn cho chính quyền Sài Gòn ngay tại hang ổ của chúng . Sau giải phóng miền Nam CIA ( tình báo Mỹ ) vô cùng kinh ngạc . Ông được phong quân hàm thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam
(6) Anh hùng Phạm Tuân quê xã Quốc Tuấn, huyện Kiến Xương , tỉnh Thái Bình . Người Đông Nam Á đầu tiên bay vào vũ trụ .
(7) Anh hùng Nguyễn Thị Chiên , quê làng Lê, huyện Kiến Xương , tỉnh Thái Bình . Người con gái đầu tiên trên hành tinh của chúng ta với tay không bắt sống tên quan Ba Pháp .
(8) Thái Bình là tỉnh đầu tiên của miền Bắc xã hội chủ nghĩa đạt năm tấn thóc trên một ha , được vinh danh là Quê Lúa .
(9) Anh hùng Tạ Quốc Luật , quê Quang Lang , xã Thụy Hải , huyện Thái Thụy , tỉnh Thái Bình, người bắt sống tướng Đờ - cát trong chiến dịch Điện Biên lừng lẫy địa cầu.
(10) Bùi Quang Thận, quê Chợ Bàng, xã Thụy Xuân , huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Người hạ cờ Ba Sọc của ngụy quyền Sài Gòn trên nóc dinh Độc Lập . Đặt dấu chấm hết của lá cờ vàng ba sọc đỏ ; lá cờ của bọn bán nước tồn tại trong 27 năm ( từ 1948 – 1975 ) .
TP Hồ Chí Minh , ngày 10-10-2010
( Năm ngàn năm Thăng Long )
Công Viễn sưu tầm
(*) THƯ NGỎ:
Kính thưa các bậc thầy về văn chương Quê Lúa và các bạn quê gốc Thái Bình .
Chúng tôi phác thảo bài vè Đất Ăn Chơi sau quá trình suy tư nhằm “trả nợ” bài “Đất Ăn Chơi” của thiên hạ . Họ đã “tâng” Thái Bình ta lên mà không ít người vẫn tấm tắc khen .
Để có tiếng nói xứng đáng đáp lại bài “Đất Ăn Chơi” của thiên hạ đã được truyền miệng mấy chục năm nay , chúng tôi mong các bậc thầy và các bạn với lòng tư trọng của mình hãy sửa những chữ , những câu trong bài phác thảo này để Thái Bình ta có một bài tương xứng với lịch sử .
Mọi góp ý xin điện về số máy của 3 chúng tôi trong bài vè này . Cho phép chúng tôi được trích hai câu thơ của cụ Nguyễn Du để cảm ơn các bạn góp ý sửa bài : “Thiện căn ở tại lòng ta / Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài”
Đồng tác giả
Nguyễn Công Viễn – Nguyễn Công Hiển – Đoàn Duy Hiền
0977173394 (04)38550504 0918507722
(Trong đó , Nguyễn Công Viễn là người khởi xướng và chủ biên)
_ Nguyễn Công Viễn và Nguyễn Công Hiển đều là người làng An Định , xã Thụy Văn , huyện Thái Thụy , Thái Bình . Riêng Nguyễn Công Hiển đang định cư ở thủ đô Hà Nội
_ Đoàn Duy Hiền , người làng Tu Trình , xã Thụy Hồng , huyện Thái Thụy , tỉnh Thái Bình , đang định cư ở Tp Đà Lạt , tỉnh Lâm Đồng .
|
| TIN VĂN |
Viết bởi buthaiminh 20:46 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (0) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
TIN VĂN NGHỆ |
|
Trại bồi dưỡng sáng tác
văn học trẻ toàn quân năm 2010
Vừa qua Tổng cục Chính trị quân đội Nhân dân Việt Nam phối hợp với Trung tâm bồi dưỡng Viết văn Nguyễn Du, Chi Hội nhà văn quân đội và Quân khu I tổ chức Trại bồi dưỡng sáng tác văn học trẻ toàn quân từ ngày 16 -10 đến 5-11-2010, tại Đoàn 16 - Quân khu I ( huyện Đai Từ, tỉnh Thái Nguyên).Trại đã tập hợp đ¬ợc 30 cây bút trẻ trong và ngoài quân đội và một số cây bút của Hội văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên tham gia.
Mục tiêu của trại lần này là bồi dưỡng kỹ năng sáng tác văn học cho các cây bút trẻ có năng khiếu đang công tác ở các đơn vị cơ sở; đồng thời đáp ứng yêu cầu sáng tác về đề tài chiến tranh cách mạng, lực lượng vũ trang ( CTCM, LLVT) và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Học viên được trang bị một số kỹ năng sáng tác truyện ngắn và thơ. Trong quá trình thực hành sáng tác được các giáo viên của Trung tâm Bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du và Chi hội Nhà văn Quân đội hướng dẫn cho từng tác giả, tác phẩm.
Sau hơn ba tuần học tập và lao động, 40 truyện ngắn và 2 tập thơ được nghiệm thu đạt kết quả, trong đó có 20% tác phẩm đạt khá. Hầu hết các tác phẩm viêt về đề tài LLVT, CTCM, trong đó có đến 90% viết trực tiếp đề tài người lính hôm nay.
Nội dung thể hiện trong tác phẩm khá phong phú. Đề tài viết về cuộc kháng chiến vừa qua của dân tộc tiếp tục được khai thác. Đề tài viết về người chiến sỹ hôm nay đã được hầu hết các cây bút trẻ quan tâm, chiếm 85% số tác phẩm phản ảnh gần như hầu hết mặt diện của các quân binh chủng trong toàn quân. Do gắn bó với đề tài LLVT, CTCM và cố gắng trong nghiên cứu, bám sát đời sống hiện thực, các tác phẩm đã làm nổi bật hình tượng Bộ đội Cụ Hồ qua các cuộc kháng chiến, có thể kể đến các truyện ngắn: “ Hai người đàn ông” của Vũ Phương Hà, “ Người bạn cũ” của Đặng Toán, “ Trăng xưa” của Phạm Văn Đảng. “ Chuyện ở Lũng Pần’ của Sầm văn Thạch, “ giữa tầng trời” của Phạm Vân Anh, “ Tre khóc” của Nguyễn Hoàng Sáu v.v…
Nét độc đáo của loại truyện viết về các cuộc kháng chiến với cách nhìn của thế hệ chưa từng cầm súng tham gia chiến trận thật mới mẻ, vừa cảm thông sâu sắc với thế hệ cha ông, nhưng cũng thật công bằng, khách quan trong đánh giá thắng- bại của cuộc chiến, không hướng thượng ngợi ca, nhưng cũng không phủ nhận quá khứ. Họ nhìn nhận cuộc chiến vơí cái nhìn vô tư và trong sáng.
Đề tài phản ảnh về người chiến sỹ hôm nay được các tác giả trẻ tập trung khai thác rất sâu vào hiện thực đời sống ở đơn vị cơ sở, với các nhân vật đang ngày đêm tham gia bảo vệ tổ quốc trên hầu hết các tuyến đầu của các quân binh chủng, và đó cũng là thế mạnh là sự thành công của trại viết lần này. Đó là các truyện ngắn: “ Chuyện ở Khe Lánh” và “ Lung linh nắng sớm”của Tăng Văn Tĩnh, “ Ngày em đi “ của Nguyễn Hữu Nhuận, “ Giữa tầng trời” của Vân Anh, “ Cu Phúc” của Đào Hải, “Tôi đi câu cá mú” của Bùi Ngọc Dương, “Bồ câu không đưa thư’ của Phạm Kiên, “Người về Thanh Hải” của Nguyễn Thành Trung, “ Ngàn lần xin lỗi” của Nguyễn Thị Sáu, Vết tr¬ượt” của Hoàng Thị Tuyết v.v…Điều nổi bật ở loại truyện ngắn đề tài này, các tác giả phản ánh khá hiện thực đời sống người chiến sỹ hôm nay với những tâm tưnguyện vọng và tâm lý khá phức tạp trước bộn bề của đời sống đa chiều của nền kinh tế thị trường; khác thế hệ đàn anh, trước mỗi sự kiện tác động đến, các nhân vật đều dằn vặt, vật lộn giữa cái chung và cái riêng, giữa cái tiêu cực và tích cực, để rồi cuối cùng họ đều chọn cho mình một quyết định vì nhân dân quên mình như thế hệ cha ông.Có thể nói hơi thở tươi rói cuộc sống người chiến sỹ hôm nay đã được các tác giả đưa vào tác phẩm khá thành công. Đọc toàn bộ các tác phẩm như thấy được nhịp điệu thật tươi mới, đầy sắc diện của đoàn quân binh nhì đang huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, và đêm ngày vật lộn với sóng to, bão lũ cứu vớt nhân dân, hoặc chiến đấu bảo vệ từng tấc đất, từng hải lý biên cương của Tổ quốc.
Những tác phẩm viết về hậu cuộc chiến tranh cũng được một số tác giả quan tâm khai thác.Đây là những chiêm nghiệm quá khứ hào hùng của dân tộc và thể hiện bằng cách nhìn nhận ngày hôm nay, nên đã khắc họa hoặc lý giải được một số vấn đề về cuộc sống, về nhân tình thế thái, về thân phận con người như các truyện ngắn: “Người bạn cũ” của Đặng Toán, “Hai người đàn ông’ của Vũ Phương Hà, “Trăng xưa’ của Phạm văn Đảng…
Những tác phẩm viết về đề tài tình yêu gia đình, về thân phận người phụ nữ được khá nhiều tác giả phản ánh. ở loại đề tài này thế mạnh thuộc về các cây bút nữ. Họ khai thác khá đa chiều và sâu sắc, tinh tế trong quan hệ tình yêu, trong hôn nhân gia đình, và đặc biệt về thân phận người phụ nữ ở mọi thời đại, nhất là thời đại hiên nay. Có thể kể đến các truyện ngắn: “ Thím Nhượng” của Phan Thị Hà, “ Biển chiều nay không có sóng” của Đặng Thị Huyền, “Bến sông tình” của Lê Hoàn, “ Trên một chuyến tàu” của Nguyễn Hữu Nhuận, “ Ngàn lần xin lỗi” của Nguyễn Thị Sáu, “ Đàm cưới không hôn thú” củ Vũ Thế Bôn v.v…
Đề tài tình yêu trong văn học là đề tài muôn thuở được khai thác nhiều và hầu hết trong các tác phẩm của các tác giả. ở mỗi cung bậc tình cảm khác nhau, các tác phẩm cũng khắc họa được tình yêu đôi lứa, tình yêu gia đình. Tình yêu trong “Thím Nhượng” của Phan Thị Hà là mô tuýp tình yêu một chiều của lớp cha ông chúng ta ngày xưa, nó đắp lên một thân phận người phụ nữ chịu sự đọa đầy của một tư tưởng phong kiến, nhưng đồng thời nó cũng phản ánh đạo đức, lối sống quên mình vì người của phụ nữ Việt Nam, phê phán lối sống vị kỷ cá nhân. Nhưng tình yêu trong “ Biển chiều nay không có sóng” của Đặng Thị Huyền lại là tình yêu thời hiện đại, người phụ nữ ở đây cũng là người phụ nữ rất ghen tuông, biết giận hờn nhưng họ có tri thức, nên họ biết lý giải, biết tha thứ, không thụ động cam chịu số phận và tìm cho mình một phư¬ơng cách sống để mình và gia đình yên ổn, hạnh phúc. Tình yêu trong “ Bến sông tình” của Lê Hoàn cũng rất đặc biệt. ở câu chuyện này tác giả muốn có thông điệp đến với bạn đọc rằng tình yêu muôn thuở là nhựa sống của cuộc đời, chỉ có tình yêu đích thực mới làm cho đời con người ta có ý nghĩa.
Mang đậm chất Nam bộ phải kể đến “ Người về Thanh Hải” của Nguyễn Thành Trung ( Quân khu 7). Một câu chuyện giản dị, với ngôn ngữ giầu hình ảnh, phong tục tập quán, phong cách nhân vật đã tạo nên không khí truyện mang đặc tính một Nam bộ hóm hỉnh và thật ấm áp tình ngư¬ời. Hoặc truyện ngắn “ Bến sông tình” của Lê Hoàn ( Quân khu 5). Đó là một câu chuyện đậm chất miền Trung Nam bộ, cùng với ngôn ngữ truyện hấp dẫn và không khí truyện đậm đặc khu 5, tác giả đã khắc họa được một nhân vật có một phong cách sống, một tình yêu của con người của một vùng đất dằng dặc khúc ruột miền Trung.Còn Truyện ngắn “ Thằng Lú” của Phạm Kiên lai rặt không khí của vùng Nghệ Tĩnh với những tên đất, tên rừng và ngôn ngữ địa phương khắc khổ mà đặc sắc.
Về đề tài xã hội nói chung có một số truyện ngắn: “Cảm ơn cuộc đời”, “ trả giá” của Đặng Toán, “Ông Thu” của Tống Công Chung, “ Vết trượt” của Hoàng thị Tuyết, “ Thằng Lú” của Phạm Kiên, “Ngày về” của Tiến Thịnh, “ Tham Vọng” của Nguyễn Quang Vinh, “Hải Lưu ấm” của Vân Anh v.v… Mặc dù các tác giả là bộ đội nhưng tỏ ra khá am tường khi viết về đề tài hóc búa này. “ Ông Thu” của Tống Công Chung là một nhân vật khá đặc biệt, dám đứng ra để cưới một người phụ nữ bị sida đã có hai con nhỏ. Truyện khó tin, vậy mà dưới ngòi bút của tác giả, người đọc đã được thuyết phục hoàn toàn, rằng cuộc đời này còn nhiều người tốt đáng kính.
Về thơ: Có lẽ do đặc thù của trại bồi dưỡng, nên tác phẩm thơ có phần khiêm tốn hơn. Hai tác giả với hai tập thơ đầy đặn, đó là Đặng Thị Huyền ( Quân khu 5) có tập thơ “ Biển khóc” và Đặng Toán (quân khu 3) có tập thơ “ Mặt trời hóa trang”, cùng một số tác giả khác, tổng cộng 112 bài thơ với các đề tài tình yêu quê hương, đất nước tình yêu lứa đôi. Có thể nói đọc những bài thơ của các tác giả như được cảm nhận những giọt nước chắt ra từ chiêm nghiệm cuộc đời của mỗi người.Trong Bài “ Cha ơi! gắng đợi con” của Đặng thị Huyền, người đọc hình dung một đứa con xa, đang vội vã lên máy bay khi nghe tin cha đang hấp hối: “Con sẽ không buồn, không để nước mắt rơi/ Dù trái tim con đang đớn đau quá đỗi/ Con không muốn cha thấy mình có lỗi/ Mà muốn lòng cha thanh thản chẳng sầu đau”. Hoặc viết về tình yêu quê hương: “ Mơ được trở về với những yêu thương/Nhặt lại tuổi thơ vá hồn mình rách nát/ Dấu yêu ơi! vẫn vẹn nguyên khao khát/ Khi lòng mơ về miền cổ tích bình yên/. Nói về tình yêu, Nguyễn Thị Sáu ( Thái Nguyên) thì viết: “Em vẫn là em thôi/Lòng đất hiền rộng mở /Đất yêu trời từ đó/Muôn thuở chẳng phai mờ/Cầm lòng cùng bão lũ/ Âm thầm với nắng mưa”.
Do thời gian ngắn, nên chất lượng tác phẩm còn hạn chế, xong điều đáng ghi nhận là hầu hết các tác giả đã thu lượm được kết quả bổ ích: Nhận thức được một số nội dung cơ bản về sáng tác văn học và bước đầu biết cách dựng truyện, bố cục, hư cấu văn học. Một số đã vươn lên viết được tác phẩm tương đối tốt. Từ những thu lượm cơ bản ban đầu này cho phép những đồng chí có lòng say mê văn học tiếp tục tìm tòi, nghiên cứu để đi xa hơn nữa trên con đường văn chương nghệ thuật .
Có thể nói đây là mô hình xã hội hóa tổ chức thích hợp, có tính chất kích hoạt, đánh thức năng khiếu tiềm ẩn trong anh chị em, tạo đà ý nghĩa cho những cây bút mới để bắt đầu sáng tác.
|
| phê bình văn hoc |
Viết bởi buthaiminh 21:43 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (3) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
PHÊ BÌNH -TIỂU LUẬN |
|
VƯỢT LÊN SỐ PHẬN
(Đọc giời cao đất dày - tiểu thuyết của Bùi Thanh Minh- NXB Hội Nhà văn)
Nh à v ăn Lương Sỹ Cầm
Mới đầu đọc đầu đề cuốn tiểu thuyết “ Giời cao đất dày” người đọc đã cảm nhận ngay vang vọng của một lời khẩn cầu lòng nhân ái, niềm cảm thông của những con người có số phận bất hạnh. Tác giả đã chọn hai người trẻ lâm vào cảnh khốn cùng bị làng xóm xua đuổi, cô lập xa lánh, dồn xuống tận đáy cuộc sống xã hội. Họ tìm đến nhau để xây dựng hạnh phúc lứa đôi.
Đó là Thuần, chàng trai bỏ làng ra đi, mười lăm năm sau mới trở về với căn bệnh hủi quái ác. Thuần trở về quê cũ với ý định trả thù một cốt cán trong cải cách ruộng đất đã từng vu oan cho bố anh, một bí thư chi bộ Đảng, khiến ông bị bắn oan. Bỏ làng ra đi từ năm 17 tuổi, anh không biết rằng, ngay sau khi anh đi chi bộ Đảng làng Bùi đã minh oan và phục hồi Đảng tịch cho bố anh. Anh trở về bị người làng ghê sợ, xua đuổi vì họ sợ lây bệnh hủi. Anh dựng lều cỏ ngoaì đê biển làng Bùi, và bắt đầu một cuộc sống cô lập, chỉ với một mục đích trả thù.
Nhân vật thứ hai là Sa, một cô gái đẹp nhưng vừa câm vừa điếc, sống cùng mẹ và dượng ghẻ một lão dâm dục, vì không thoả mãn dục vọng xấu đã hành hạ con riêng của vợ một cách cực kỳ tàn nhẫn. Sau khi tự tử không thành, cô bị lão đuổi ra khỏi nhà. Sa đã gặp Thuần và họ đã đến với nhau bằng tình yêu sâu sắc của những người cùng khổ, những người bị đồng loại xua đuổi. Từ tình yêu đó họ đã vượt qua bao khó khăn gian khổ để xây dựng một cuộc đời mới.
Cảm hứng sáng tạo của nhà văn bắt nguồn từ lòng trắc ẩn trước số phận hẩm hưu của những con người bất hạnh, trước cuộc đấu tranh sinh tồn của họ đối mặt với sự xua đuổi của cộng đồng cũng như trước sự cuồng nộ tàn phá của thiên nhiên. Tính nhân bản của cuốn tiểu thuyết Giời cao đất giày xuất phát từ tấm lòng cảm thông của tác giả.
Trong cuốn tiểu thuyết, cả hai nhân vật Thuần và Sa đã phải chịu đựng nhiều cảnh bị đoạ đầy đến cùng cực, chịu mất mát đau xót những vẫn không chịu khuất phục trước số phận; họ đã bền bỉ, kiên gan vượt lên đến bến bờ hạnh phúc. Do đó Giời cao đất dày trước hết là một bài ca ngợi ca lòng dũng cảm của con người, ngợi ca cuộc sống đầy lạc quan.
Mấy tháng liền chui rúc giữa bụi dứa trên đê biển, Thuần thèm khát tình người, thèm khát được giao tiếp nhưng luôn bị xua đuổi. Thuần đành mỗi buổi sáng ra nằm soài ngoài bãi biển trò chuyện cùng lũ còng, chơi với còng lâu ngày thành quen. Thuần chỉ dám bò vào làng ban đêm để nghe, để nhìn cuộc sống nơi thôn xóm. Cuối cùng, Thuần làm một con diều giấy, thả lên trời cho gió đưa tiếng sáo diều vào tận từng ngõ xóm như tung lên trời với lời cầu khẩn Giời cao đất dày thấu nỗi khát khao được hoà nhập với cộng đồng thôn Bùi.
Ngược lại, Sa ở nhà dượng ghẻ bị đánh đập, xích chân vào cột; quá bức bách cô tìm cách tự tử nhưng không thành. Trong cơn tuyệt vọng, Sa nghe tiếng sáo diều của Thuần liền tỉnh lại và trốn ra bờ đê biển với Thuần. Những trang viết về tiếng sáo diều của Bùi Thanh Minh tạo nên một điểm sáng lung linh của cuốn tiểu thuyết, có tác dụng xoa nhẹ nỗi đau của hai nhân vật. Và cũng là những trang viết lay động lòng người.
Gặp Sa, Thuần tâm sự biết bao điều, nhưng lời nói anh không lọt tai người câm điếc là Sa. Bao lâu Thuần tích tụ lâu nay mới có đối tượng để tuôn xả hoá ra uổng phí. Không chán nản, họ viết chữ trên mặt đất để trao đổi với nhau.
Có lúc dân làng đã cắm biển” cấm thằng hủi” ở một bãi sú vẹt nhiều hải sản. Không chịu thất bại, Thuần dã lánh đi tìm những bãi sú vẹt lẻ loi, xa bờ để kiếm ăn. Đến lúc dân quân mang súng ra con đê biển để xua đuổi gia đình thằng hủi thì hai vợ chống Thuần di chuyển đến một vùng hoang vắng nơi giáp ranh giữa hai xã để tạm trú kiếm kế sinh nhai. Họ bị cộng đồng xua đuổi , dồn đến tận cùng. Nhưng không chịu khuất phục, nghị lực sống của họ luôn chiến thắng.
Thuần và Sa là biểu tượng của cái thiện. Lần đầu cưới vợ là cô Gấm ở miền trung du, Thuần từng ao ước sẽ sinh những đứa con thật đẹp, không đố kỵ không độc ác, không bon chen, biết thương yêu con người.
Ước mơ của Sa lúc bị nhốt trong nhà cũng thật đơn giản: “ Bầu trời xanh bao la khơi dậy lòng khát khao tự do... Một chiếc diều lớn từ ngoài biển đưa vào... đúng là Thuần vẫn còn đó như một chứng tích và là điểm tựa niềm tin để Sa hy vọng... Tự do bây giờ đối với Sa là mơ ước, là mục tiêu để Sa vươn tới. Tự do và tình yêu bồi đắp cho nhau “cái nọ nuối sống cái kia”.
Tiểu thuyết Giời cao đất dày toát lên nét chủ đạo là tính nhân văn trong cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác. Đối với Thuần, cái ác do kẻ đã vu oan cho cha anh trong CCRĐ khiến ông bị xử bắn oan. Anh trở về làng Bùi, lòng nung nấu ý muốn trả thù cô Bi cốt cán CCRĐ. Đối với Thuần và Sa, cái ác đến từ thiên nhiên. Ngoaì bão tố đắm thuyền, hai lần phá tan lều cỏ che chở họ giữa lùm dứa, lần sau cùng còn cuốn trôi đứa con bé bỏng mới lên hai, còn có một quái vật sống trong hồ nước sâu ngoài bãi sú. Hình tượng con quái vật đầu cá, mình người là một sáng tạo của tác giả dựa trên câu truyện truyền đời từ xưa kể rằng ở cửa sông Diêm có một con bạch tuộc chuyên quấn người rồi dìm chết. Con quái vật của Bùi Thanh Minh nửa hư, nửa thực, có vẻ huyền thoại chuyên hiếp phụ nữ đi mò cua, bắt cáy gây nỗi kinh hoàng cho dân làng. Phải chăng hình tượng quái vật là biểu tượng cho cái ác đến từ thiên nhiên? Anh đã dùng hình tượng nửa hư nửa thật để miêu tả cái ác, phải chăng Bùi Thanh Mình muốn đưa đến cho người đọc thông điệp cái ác như một con quái vật luôn rình rập lấp ló quanh ta. Cái cá không hiện hình cụ thể mà cái ác đội lốt người, cái ác không phải là ác hẳn , và bao giờ cũng tồn tại một phần thiện ( sẽ có một bài bàn chuyên đề về cái ác- con quái vật trong Giời cao đất dày).
Cách xử lý của tác giả trong cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác không phải là lấy ác trả ác, mà lấy cái thiện, lòng bao dung để thuyết phục cái ác.
Một buổi chiều, Thuần đã ra rừng sú kiểm tra bẫy bắt cá bớp thì gặp mụ Bi, một thời đã làm cốt cán, rồi làm chủ tịch xã đang bắt trộm cá ở khu rừng cấm của anh.Thuần xách dao tới định hành động trả thù. Anh đã hỏi nhiều điều. Khi mụ Bi khai: “ông Đội bảo con nàm vậy, không nàm là chết ngay ạ... Họ đưa con nên nàm chủ tịch, con biết gì mà nàm. Họ đi con nại trở về cái kiếp nàm thuê mướn, đúng cái nghề truyền kiếp của nhà con ạ...”. Thuần nghĩ mụ nói cúng có lý. Mụ không có tội thật, nếu có chỉ là tội ngu. Thuần không còn lý do gì để trả thù nữa, liền tha cho mụ.
Còn con quái vật biển, có lần nó đã vào phá chiếc lều của Thuần bị anh xách dao đuổi đánh. Đến khi trời nổi bão, con quái vật bị một cây to đè ngang, sắp chết. Thuần đã chặt cây cứu nó. Từ đó, nó không bao giờ làm hại người nữa.
Trong cuốn tiểu thuyết Giời cao đất dày nhà văn Bùi Thanh Minh đã bộc lộ một cách nhìn các vấn đề xã hội khá thông thoáng, phù hợp với thời kỳ đổi mới.
Về đề tài CCRĐ đã có một số nhà văn viết, và hầu hết các tác giả viết với một tâm trạng hằn học với ý đồ cơ hội; CCRĐ ở đó hiện lên là một xã hội đen tối, bẩn thỉu, nó như một vết nhơ của một thời kỳ ấu trĩ. Nhưng trong Giời cao đất dày Bùi Thanh Minh thể hiện một cách nhìn khách quan, toàn diện và nhân hậu, vị tha. Chúng ta vừa thấy được cái được, cái lấp ló sáng trong mỗi con người, trong sự kiện; nhưng đồng thời cũng vạch rõ nguyên nhân, hậu quả những sai lầm của CCRĐ. Đó chính là điểm mới trong CCRĐ. Mặc dù ông Ro vốn là một Bí thư chi bộ Đảng từ thời chống Pháp, trong CCRĐ bị xử lý oan nhưng Bùi Thanh Minh đã tỉnh táo xem xét biến động lịch sử ấy xuất phát từ một mô hình cải tạo xã hội xa lạ không phù hợp với truyền thống văn hoá làng xã Việt Nam. Anh không chỉ rõ tác nhân của một thời náo loạn là cấp này, cấp khác, đoàn này , tổ nọ như các cuốn tiểu thuyết khác đã viết, mà dùng chung một tên gọi là “ông Đội”. Cái danh từ chung ấy lại nhắc nhở một hiện tượng nhất thời vấp váp trong qúa trình cách mạng tiến lên. Nhân vật “ông Đội” là một sáng tạo trong Giời cao đất dày ( sẽ có một bài riêng về nhân vật ông Đội).
Đề tài xã hội thứ hai mà nhà văn Bùi Thanh Minh tỏ ra nhạy cảm là sự bình đẳng về giới tính. Trước hết hai nhân vật nữ là Gấm và Sa. Họ đã bộc lộ tình cảm yêu thương một cách chân thành và tự nguyện đến với Thuần, chủ động bày tỏ tình yêu. Ngược lại, Thuần luôn luôn giữ trọn nhân cách trong việc ứng xử, biết tôn trọng phụ nữ dù đó là con người tật nguyền. “ Làm thằng đàn ông phải đáng mặt đàn ông.Cái sang hèn không phải từ địa vị mà ở nhân cách con người”.
Trong cuốn Giời cao đất dày Bùi Thanh Minh lộ rõ ý đồ mạnh tay viết về quan hệ tình dục nam nữ. Tuy nhiên nếu như khi viết về nhân vật chính diện ( Thuần, Gấm Sa) ngòi bút của anh cẩn trọng, tế nhị bao nhiêu thì khi viết về nhân vật phản diện ( mụ Bi, lão dượng dâm ô, tên chủ ao bèo...) anh thả lòng ngòi bút để câu chữ hiện lên dung tục thô thiển. Ở đây tác giả với ý đồ tình yêu trong sáng chỉ có ở những con người thanh cao như Thuần , Gấm và Sa, còn những kẻ thấp hèn thiếu nhân cách thì tình yêu của họ cũng thô bỉ.
Tôi đặc biệt chú ý đến đoạn kết đã mã hoá của Giời cao đất dày.Khi đem giải mã, chỉ riêng đoạn kết này đã nói được bao điều về nguyên nhân sai lầm của CCRĐ và chủ đề tư tưởng của cuốn tiểu thuyết muốn nói gì.
Sau cuốn tiểu thuyết “ Bên sông trà lý” đây là cuốn tiểu thuyết Bùi Thanh Minh đi sâu một làng biển của tỉnh Thái Bình với một sự hiểu biết sâu sắc con người xứ biển và đặc biệt là các loại sinh vật biển cực kỳ phong phú tạo nên một bối cảnh sinh động cho cuốn tiểu thuyết Giời cao đất dày ( sẽ có một bài chuyên bàn về sinh vật nơi biển cạn).
Tháng 6 năm 2010 L.S.C
|
| Truyện ngắn |
Viết bởi buthaiminh 21:10 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (2) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
TRUYỆN NGẮN |
|
Bùi Thanh Minh
Chuyện tình Sa Pa
Sải nằm nghe tiếng con vượn hót ngoài thác Bạc suốt từ bốn giờ sáng. Tiếng hót lúc véo von, khi tha thiết; lại có lúc chìm vào tiếng thác nước đổ ào ào như rừng động, nước từ trên cao dội xuống tràn ra lênh láng, từng đợt, từng đợt như sóng của con suối Trung Hồ. Tiếng vượn vút lên tới non cao, rồi thả xuống vực thẳm, lặng chìm sâu đáy suối. Ngoài nương nhà con Mẩy bắt đầu có tiếng gà rừng te te gáy. Đó là con gà trống màu đỏ đang đậu trên cành bằng lăng, đã mấy lần Sải nhìn thấy. Lát nữa nó sẽ bay xuống nương ngô cùng với mấy con gà mái màu nâu đi kiếm mồi. Đó là lúc tiếng gáy của con trống tắt, tiếng con vượn đực ngoài thác nước cũng tắt và tiếng đàn chim rừng sẽ tấu lên rộn rã. Cả một trời xanh vang lên bản nhạc tưng bừng của núi rừng. Bên nhà thằng Cư Seo Phủ đàn lợn cũng thức dậy đuổi nhau, cắn nhau ngoài vườn vải kêu chí chóe. Sải trằn mình nằm nghiêng, suy nghĩ miên man. Hôm nay các con, các cháu, các chắt của Sải làm cỗ mừng Sải tròn tám mươi tuổi. Thật khó cho Sải, hôm nay cũng là thứ bảy. Thứ bảy ở trên thị trấn Sa Pa có phiên chợ tình. Sải và người ấy sẽ gặp nhau, cùng nhau uống rượu cho thật say, cùng nhau làm cho núi rừng tan thành tro bụi. Kể từ cái đêm ấy... đã 16 phiên chợ tình, không phiên nào Sải và người ấy không bên nhau để chia sẻ những buồn vui, sướng khổ của cuộc đời. Chỉ mới nghĩ đến đấy, toàn thân Sải như sôi lên, cái muốn ở trong lòng cuồn cuộn làm tim Sải thậm thịch.Vì thế Sải không muốn ở nhà. Sải ở nhà, người ấy đến chợ tình không gặp được, người ấy sẽ buồn, cái đầu lại say và cái miệng lại khóc, cái mắt lại chảy nước. Sải chỉ muốn đi với người ấy, cùng người ấy sống thật lòng, thật bụng hai ngày hai đêm. Làm cách nào bây giờ? Làm cách nào trốn được con cháu mà đi? Sải sinh từ cái thời thằng Pháp còn như con thú dữ ở Sa Pa. Mười bốn tuổi Sải lấy chồng. Người chồng hơn Sải hai tuổi. Bốn năm sau, Sải đã có hai đứa con, một gái một trai. Đứa con trai vừa tròn một tuổi thì chồng Sải chết do bị trúng bẫy hổ của bản Tả Vạn. Chồng Sải bị treo ngược lên cây cao suốt một đêm ròng, máu dồn xuống mặt sưng vù lên trông như một chiếc thớt đầy ụ thịt tím lịm, hai mắt lồi ra như mắt con cheo luộc. Mười tám tuổi, Sải đẹp lạ lùng. Hai má lúc nào cũng rừng rực như lửa, đôi mắt ướt rười rượi, đôi vú căng mọng như vú con gái. Sải không thể không lấy chồng nữa vì đêm nào cũng như đêm nào Sải không ngủ được, hai cặp đùi trắng nõn vặn vẹo đến đỏ nhừ. Người chồng thứ hai của Sải là một chàng trai khỏe như con beo rừng. Hai cánh tay của chàng như hai cái bắp cây săng lẻ cuồn cuộn những thớ thịt và dây chằng. Nhưng người chồng đó chỉ làm cho cái thân đàn bà thỏa mãn, rồi mấy năm sau cũng theo người chồng cũ của Sải mà bỏ mấy mẹ con Sải do một tai nạn bất ngờ: lộn cổ từ trên đỉnh Phan Xi Păng xuống vực. Khi tìm được xác thì thú rừng cũng đã xé nát, chỉ còn vài khúc xương ngổn ngang. Sải khóc hết nước mắt. Đời Sải khổ mới ngoài 20 tuổi đã hai đời chồng và đời chồng nào cũng chết thảm, mấy đứa con thơ dại quấn vòng tang trắng trên đầu, ai nhìn vào cũng nát ruột héo gan, con tim Sải không vỡ là may lắm rồi. Nhặt đống xương gói lại, chôn cất chồng xong xuôi Sải lại hùng hục leo núi, làm cái rẫy, cái nương nuôi đàn con nheo nhóc. Rồi nắng, rồi mưa, rồi gió, rồi giông, rồi bia miệng tiếng đời... chan vào thân phận Sải, nhưng lạ thay, tuổi trẻ của Sải vẫn mơn mởn như cây măng mai, có chụp cái cối đá nó vẫn cứ đội lên mà lớn. Đàn bà không có chồng như cái suối không có con cá, cái núi không có cái cây. Sải lại đi tìm chồng. Chồng Sải lần này là một người đàn ông người Xá Phó hơn Sải mười lăm tuổi. Ông ta là một thợ săn nổi tiếng. Trong nhà ông có đến năm cặp sừng voi, ba bộ da hổ và hàng chục gạc hưu, gạc nai, hàng trăm móng vuốt thú rừng các loại. Ông có sức mạnh kinh khủng của đàn ông dành cho đàn bà. Sải gặp ông lần đầu khi ông mặc bộ quần áo người Xá Phó, một chiếc cung khoác chéo qua vai, tay phải cầm chiếc đao đứng ở sườn núi Ma Cheo Văn nhìn xuống thung lũng Trung Hồ, trời chiều hắt vào sườn núi những ráng vàng như lửa, in hình ông tạc vào như dáng núi khiến tim Sải rung lên như cánh hoa đồng tiền gặp gió. Sải có ông như con nai trở về được với rừng. Ông là ngọn núi lớn hiên ngang chống trọi với bão gió, mưa nguồn để cho cây rừng nương tựa. Ông như chén rượu ngô làm lòng Sải ấm lại khi bụng thấm lạnh. Có ông Sải trải được lòng mình. Trong nhà Sải lúc nào cũng tràn ngập hạnh phúc. Các con của Sải quí ông như cha đẻ của chúng. Nhưng trời nghiệt ngã, chỉ cho Sải hạnh phúc được vài năm rồi cướp đi người chồng mà Sải yêu thương nhất chỉ bằng vết cắn của con rắn lục nhỏ.Cái chết của ông khiến Sải sụp đổ, quị hẳn không dậy được nữa. Bốn tháng sau, nhờ vào những miếng cao hổ của ông để lại, Sải ngồi dậy được. Rồi Sải vào rừng lấy những cái lá màu đen bỏ vào miệng nhai. Thứ lá bí truyền mẹ Sải dặn lại. Đó là một loại thuốc trường sinh bất lão, nó cho người đàn bà dư thừa sinh lực hơn cả Võ Tắc Thiên người Trung Quốc. Năm ấy Sải hai mươi bốn tuổi. Già làng bảo: - Con Sải không được lấy chồng nữa. Đàn ông người Mông, người Dao, người Tày ở Sa Pa ít lắm. Mày lấy chồng nữa thì lấy ai đi săn con thú, lấy ai đi làm cái nương, cái rẫy? Nhưng đôi má Sải cứ đỏ như hoa mộc miên, cặp mông Sải cứ cong tưng, đôi vú của Sải cứ căng mọng như hai trái bưởi. Đàn ông trong bản, rồi đàn ông các bản lân cận vây quanh Sải như đàn ong, nhưng không đứa nào dám lấy Sải nữa. Họ sợ lại cũng thành con ma như ba người chồng trước của Sải. Nhưng họ không cưỡng lại được cái thân hình rực lửa của Sải. Cũng có người liều lĩnh, đêm đêm đến đầu nhà thổi sáo, có khi tới sáng. Suốt đêm lời tiếng sáo nỉ non: Từ trong tim yêu thiết tha thiên thần ơi/ Rì rào lời suối hát thác trắng ngần/ Khèn vang vang trên đỉnh núi anh cùng em...làm tim Sải run run. Nhưng Sải không thể chọn được ai dù chỉ bằng một phần người chồng của Sải mới mất.Trong lòng Sải chỉ có ông mà thôi. Đêm đêm Sải vẫn mường tượng đến ông. Hơi thở ấm áp quen thuộc như chính hơi thở của Sải. Thân thể của ông, chỗ nào Sải cũng cảm thấy như thân thể của mình. Hai người lẫn vào nhau, không biết đâu là của Sải đâu là của chồng. Đã bao năm rồi mà Sải cảm thấy ông sừng sững trong lòng như ngọn núi lửa. Cuộc đời Sải cứ thế trôi đi, suốt năm, suốt tháng mài váy bên chiếc khung dệt lanh, cắm mặt vào sườn núi Phan Xi Păng, ngâm mình dưới con suối Trung Hồ để nuôi đàn con như đàn hổ đói lớn lên. Thằng Pháp rời Sa Pa cuốn xéo về nước, lại đến thằng Mỹ mang bom đạn đến bắn phá, rồi lại chiến tranh biên giới... Giặc giã, lụt lội, đói rét liên miên dội lên đầu người dân Mông, trút lên đầu Sải, vắt cạn kiệt sinh lực. Sải nghiến răng chống trọi để sống. Rồi Sải có cháu ngoại, cháu nội. Năm ngoái con bé cháu ngoại lấy chồng sinh một bé trai. Thế là Sải đã có chắt.Vui vầy với đàn con cháu rồi cũng nguôi ngoai đôi chút. Từ năm sáu mươi tuổi, Sải sợ bệnh tật, nên lại tiếp tục ăn cái lá trường sinh bất lão đó, cơ thể Sải cứ như được lột xác. Mọi tế bào trong người Sải như sống dậy, sinh lực lại dư thừa. Cả đời Sải không biết viên thuốc là gì. Cả đời Sải chưa lúc nào nguội tắt ngọn lửa tình yêu. Răng Sải vẫn nhai được xương con gà, da Sải vẫn căng, nếp nhăn tuy có nhưng không sâu, không dài. Cái chân Sải vẫn còn leo được núi Ma Cheo Văn hái cây nấm, cây măng và cái nấm linh chi mang ra chợ Sa Pa bán cho người Kinh, bán cho mấy ông tây bà đầm đi du lịch lấy tiền uống rượu, mua sắm. Một tối thứ bảy phiên chợ tình không họp được vì trời đổ mưa. Mưa tầm tã. Nước từ trên núi Rồng đổ xuống như thác. Phố phường nhòa tan trong mưa. Trên núi cao cây cối vật vã vì gió thổi. Dưới khe sâu suối gào lên vì ruột gan bị nước xối. Đàn ông, đàn bà, những trai thanh gái tú ở các bản người Mông, người Dao, người Giáy, người Xá phó buộc ngựa vào gốc cây tạt vào nhà thờ, vào những ngôi nhà trọ tránh mưa. Tây ba lô mắt xanh, mũi lõ ướt như con chúi lội vào những túp lều bán hàng xì xồ kêu lạnh.Các chị nướng khoai, nướng trứng bê bếp chạy vào những quán hàng quanh nhà thờ trú tạm. Sải đeo chiếc quẩy tấu trên lưng tạt vào một cái quán bán thắng cố quen thuộc. Ở đó Sải sẽ ăn tô thắng cố và nếu có bạn thì uống rượu thâu đêm cho sướng. Quán thắng cố không đông khách lắm. Phía góc bên phải có hai vợ chồng người Dao vừa ăn thắng cố vừa uống rượu. Ở giữa có hai chàng thanh niên người Mông ngồi uống rượu ngô với thịt nai khô. Họ say như cây ngải cứu dập xuống dưới suối mà vẫn uống. Sải đặt chiếc quẩy tấu vào góc nhà, cụp chiếc ô gác lên trên, rồi ngồi vào chiếc bàn góc trái gọi chai rượu, đĩa thịt lợn quay nhâm nhi cho ấm cái bụng. Sải sẽ ngồi đây suốt đêm mà uống mà ngắm bọn trẻ người Dao yêu nhau cho đã con mắt. - Cho ta một đĩa thịt lợn quay, nhiều nhiều há. Ta uống rượu với thịt lợn quay, nói chuyện với chồng ta sướng lắm há. Chủ quán đến bên: - Chào cụ! Cụ khỏe chứ. Trời mưa quá phải không cụ? Rồi quay vào, người chủ quán vừa thái thịt lợn, vừa sắp vào đĩa bưng ra cho Sải. Hôm nay Sải thấy anh ta có vẻ thân mật, dễ dãi và nhiều cái lời hơn mọi lần. Anh ta khoảng trên ba mươi tuổi, một vợ bốn con. Ngày xưa người chồng ta yêu nhất cũng chạc tuổi này. Chúng ta yêu nhau suốt ngày không biết chán, yêu tất cả mọi thứ trên người của nhau. Lạ thế, đã gần sáu chục năm rồi mà cứ nghĩ đến người chồng ấy, cơ thể Sải rạo rực hẳn lên. Khoảng mười giờ đêm, khi mà Sải đã mê man vì men rượu, Sải không nói chuyện với người nữa mà chỉ nói chuyện với con ma. Sải nhìn sâu vào đáy chén thì thầm: - Ta yêu ông. Bao nhiêu năm qua ta vẫn yêu ông, đi tìm ông, đi tìm tình yêu, ta vẫn thấy ông về nằm bên ta. Với ta ông lúc nào cũng là một chàng trai ngoài ba mươi tuổi nồng nàn và yêu thương nhất... Những người ngồi uống rượu trong quán chẳng ai để ý đến một bà cụ người Mông lẩm bẩm những lời chẳng đâu vào đâu. Chuyện đó thường xảy ra trong những đêm có phiên chợ tình như thế này.Những người còn trẻ, họ đi chợ thường có đôi, khi người chồng say, không về được thì người vợ buộc ngựa vào chân, ngồi quạt cho chồng khi nào hết say thì về.Có khi ngồi cả đêm, chờ cho chồng tỉnh. Sải già rồi, không có bạn đời và cũng không tìm bạn đời nữa. Trời cho Sải sức khỏe, trời cũng cho Sải không tắt ngọn lửa tình yêu trong lòng. Suốt ngày, suốt đêm, suốt đời Sải khi leo núi, lúc làm nương, khi ra chợ... cái miệng Sải lẩm bẩm nói chuyện với con ma chồng, nhất là lúc uống rượu. Dòng hồi ức còn đang râm ran cơ thể Sải, thì một người đàn ông lưng đeo quẩy tấu, đầu ướt nhẹp vì nước mưa bước vào. Mắt Sải hoa lên như bị chóng mặt. Trời ơi! chồng Sải đã hiện hình trở về. Ông ấy kia, thân hình lực lưỡng, bộ ngực vạm vỡ, cái đầu lúc nào cũng hục hoặc, lắc lư như đầu con sư tử, hai bờ vai cuộn vồng lên, toàn thân vững trãi, thẳng tưng như cây sa mu. Người đàn ông đặt chiếc quẩy tấu cạnh chiếc quẩy tấu của Sải, để chiếc ô lên trên, đứng nhìn Sải rất lâu, cái miệng cứ lúng búng như người câm, rồi từ từ từng bước lại chiếc bàn góc phòng mà Sải đang ngồi. Tim Sải đập dồn dập. Đúng ông ấy rồi. Ông ấy không chết, vẫn trẻ khoẻ như xưa. Ông ấy về với Sải. Khi người đàn ông đã đứng trước mặt Sải, thì từ cái cơ thể cường tráng ấy phả vào mặt Sải một cái mùi- cái mùi mà cả đời Sải không thể nào quên được. Ấy là sau những đêm đi săn về, chồng Sải đổ ập xuống người Sải. Mùi mồ hôi đàn ông trộn lẫn mùi thú rừng, hoà cùng mùi của núi non, cây, cỏ. Nó như một thứ thuốc bùa mê mãnh liệt có sức mạnh trấn áp, khuất phục Sải. - Tôi là... Giàng Mí Vàng, người bản... Trung Chai. Cho tôi... ngồi được chứ? Người đàn ông nói mà như thổi được cái gì mắc trong miệng ra, rồi không đợi Sải trả lời, tự động kéo ghế ngồi đối diện. Sải hồi hộp quá, không dám ngẩng lên. Người đàn ông cầm chai rượu, với chiếc cốc bàn bên tự rót, tự uống. Không ai nói với ai lời nào. Sải và người ấy cứ thi nhau rót rượu. Lúc đầu người nọ rót cho người kia, sau rồi ai rót người ấy uống. Rượu trong chai đã hết mà vẫn rót. Rượu trong chén cạn khô rồi vẫn ngửa cổ dốc ngược. Mãi cho đến khi Sải mụ mị, hơi thở từ trong miệng ra có thể bốc cháy nếu gặp lửa thì mới đủ can đảm ngẩng lên. Chao ôi!Người đàn ông ngồi trước mặt chỉ bằng tuổi cháu nội Sải, nghĩa là bằng tuổi chồng Sải ngày ông ấy bị rắn độc cắn...Nhưng mà sao anh ta giống chồng Sải như hai giọt rượu. Giống từ cái cách dốc chén rượu vào miệng, lời nói và cả tiếng cười ha hả. Cái luồng hơi anh ta phả ra... con ma có sống dậy cũng không thể giống hơn. Sải và người ấy cứ nhìn nhau trân trân. Bốn con mắt cứ hút chặt lấy nhau, đắm đuối. Sải thấy đôi mắt người ấy giống đôi mắt của chồng Sải quá. Đôi mắt như dòng nước xoáy của thác Bạc, sôi lên sùng sục, nhấn chìm tất cả. Sải quên rằng Sải đã tám mươi tuổi, mà người ta, cái người đang ngồi trước mặt Sải đây chỉ ba lăm, ba sáu tuổi là cùng. Không, Sải đang sống ở lứa tuổi đó. Tim Sải, máu huyết Sải, thân thể Sải không già tý nào cả.Tất cả tình yêu thương của người chồng bỗng từ đâu ùa về làm cho các tế bào trong thân thể Sải sống dậy. Gió ở ngoài quán ào ào đuổi những hạt mưa chạy dạt vào hiên nhà. Hơi lạnh từ trên núi Rồng cố len lỏi tỏa vào trong quán. Đêm thị trấn Sa Pa lặng thinh đến nỗi đếm được từng tiếng mưa gõ trên vách lá, cả tiếng nói của mọi người trong quán cũng chìm đi trong đêm lạnh. Người đàn ông nhìn thẳng vào mắt Sải cười, nụ cười hiền như con cu ly. Đôi hàm răng anh ta lóa lên trong đôi môi đỏ tấy vì rượu mạnh khiến tim Sải muốn nhảy khỏi lồng ngực. Đêm ấy, Mí Vàng và Sải đã ngồi như thế, uống rượu và nói với nhau không biết bao nhiêu lời. Những lời mà xưa nay Sải chỉ nói được với hồn ma người chồng thứ ba của Sải. Những lời mà sau khi Sải nói ra rồi, nếu là lời buồn thì thấy mình hết buồn, nếu là lời vui thì mình vui thêm. Đêm đó, ở quán thắng cố Sải như gặp được người chồng mà gần sau mươi năm qua Sải đau đáu nhớ thương. * * * Thằng Cư Seo Lử, cháu nội Sải lục cục dậy, mở cửa ra ngoài vườn. Nó lấy con dao quắm, nghe bố dặn dò rồi biến vào rừng. Sải biết cha nó bắt nó ra đầu bản đứng canh không cho bà nội đi Sa Pa. Con Sẩu thì đeo quẩy tấu vào rừng nói là đi hái nấm, nhưng Sải biết mẹ nó sai nó ra con suối canh không cho bà nội vượt suối mà đi. Bên nhà thằng Seo Phủ cũng lịch kịch gì đó. Chúng nó bảo nhau quyết không cho Sải đi Sa Pa gặp người ấy. Chúng nó không hiểu, người Mông ta có thể thiếu chén rượu, miếng mèn mén, nhưng không thể thiếu được tình cảm con người, như đỉnh Phan Xi Păng không thể thiếu được cây rừng. Sải đã dậy ra ngoài sân.Thấy Sải lụi cụi dỡ cái quẩy tấu treo ở cây vải, cha thằng Cư Seo Lử hỏi: - Mẹ đi đâu đấy? Sải định không nói là mình đi Sa Pa, nhưng nó hỏi thế, cách hỏi của nó như thể kiểm soát, thì Sải bực mà trả lời: - Tao đi ... chợ Sa Pa. - Ô... không được đâu, mẹ. Hôm nay con cháu làm cỗ mừng mẹ tám mươi tuổi mà. Đứa con dâu cũng hùa theo: - Không được đâu mẹ. Mẹ đi thì làm cỗ mừng sao được? Sải ném cái quẩy tấu xuống, đi ra đầu nhà. Đàn lợn đen chũi nằm ngổn ngang, thấy người đến thì nhổm dậy hít hít, ngửi ngửi vào chân. Sải hẩy vào mõm con lợn, khiến nó hực lên một tiếng. Giờ này chắc là Giàng Mí Vàng đã đi được quá nửa quãng đường rồi. Lẽ ra chỉ vài giờ nữa Sải và người ấy sẽ gặp nhau, cùng nhau đi bán linh chi, bán nấm, bán những chiếc mũ người Mông ... rồi tối nay đi chợ tình, chợ tình tan thì uống rượu. Uống rượu với người mình thích thì sướng lắm, cái gì cũng say, đã say rồi thì cái gì cũng thích. Sải bực quá. Cái bực ngùn ngụt bốc lên làm nóng cả hai con mắt, hai vành tai đỏ nhừ, hai bàn tay run run. Sải quay lại lấy chiếc quẩy tấu, khoác vào vai đi thẳng vào rừng. Chúng mày làm gì được tao nào? Chúng mày không phải nuôi tao, không phải mất cho tao một viên thuốc, tao làm gì mặc tao? Sải cắt rừng mà đi. Bàn chân Sải thoăn thoát như chân con gái, đến con suối Thẩu thì ngừng lại.Sải có biết đâu, hai thằng cháu trai của Sải được cha mẹ giao nhiệm vụ phải đuổi theo đưa bà nội trở về. Chúng nó gặp Sải khi Sải đang vén váy lội qua suối. Một đứa lội xuống suối bế thốc bà nội lên bờ, một đứa quì trên bờ chắp tay lạy.Thế này thì Sải còn biết làm gì nữa. Lúc đó là bảy giờ sáng. Giàng Mí Vàng đang hăng hái bước trên đường ra Sa Pa. Từ ngày Mí Vàng gặp người đàn bà đó, trong người Mí Vàng làm sao ấy. Lúc ăn cơm, lúc làm cái nương cái rẫy, lúc thổi khèn và cả lúc ngủ nữa, hình ảnh người đàn bà ấy không sao tắt đi được. Kể từ cái đêm đầu tiên trời mưa, uống rượu ở quán thắng cố đến nay đã 16 cái phiên chợ tình, không phiên nào Mí Vàng vắng mặt, phiên nào người ấy và Mí Vàng cũng uống rượu, nói chuyện với nhau suốt đêm. Vắng người ấy, Mí Vàng ăn không thấy ngon, ngủ không thấy sâu.Và điều quan trọng bên người ấy Mí Vàng mới nói được. Cả tuần, Mí Vàng chỉ chờ đến ngày thứ bảy là từ Trung Chai ra Sa Pa. Cuộc đời Giàng Mí Vàng cũng chả có gì hay ho lắm. Mẹ Mí Vàng đã mất từ khi Mí Vàng còn rất nhỏ. Mười bảy tuổi Mí Vàng lấy một người con gái người Dáy làm vợ. Vợ Mí Vàng đẹp, đẹp nhất là đôi mắt cứ như là hai ngọn đuốc. Nhưng cái điều làm Mí Vàng hạnh phúc nhất đó là khi Mí Vàng buồn có thể đổ vào lòng vợ như được chở che, lúc vui có thể san bớt cho vợ, và lúc cần tình yêu thì người vợ làm Mí Vàng sung sướng. Hai vợ chồng cùng sống hạnh phúc với nhau được vài năm thì bỗng cô vợ mất tích sau một lần đi nương, không để lại mảy may một tý dấu vết, y như bị bốc cháy thành tro bụi, kể cả sợi khói cũng mất hút lên trời. Mí Vàng vẩn vơ mất mấy năm, như người bị hồn lìa khỏi xác. Rồi bỗng nhiên, Mí Vàng không nói được nữa. Ai hỏi cũng không nói, ai gọi cũng không thưa, suốt ngày lầm lụi vào rừng tìm vợ. Già làng bảo, con vợ Mí Vàng nó lấy mất cái hồn Mí Vàng, giờ nó lại lấy mất cả tiếng nói nữa, không khéo rồi nó lấy cả thân xác. Cha bảo phải lấy vợ cho Mý Vàng thì cái tiếng nói mới về cái miệng, cái hồn mới nhập vào người nó. Cha sang bản Tà Phìn, bản Lao Chải hỏi vợ cho Mí Vàng. Nhưng đứa con gái nào Mí Vàng cũng thấy nhạt thếch. Mí Vàng như người quanh năm ăn muối, giờ không có muối không ăn nổi. Đoàng một cái, như phát súng nổ, Mí Vàng gặp người đàn bà có lửa ấy, nó giống như tìm được cái thứ để Mí Vàng bốc cháy và sẻ chia. Đêm ấy, bỗng dưng cái tiếng nói về được cái miệng Mí Vàng. Cũng đêm đó Mí Vàng đã nói tất cả những lời mà mười mấy năm qua không nói được. Lạ thế, người đàn bà ấy hơn cha của Mí Vàng những sáu tuổi. Mùa xuân cảnh vật Sa Pa thật là đẹp. Núi Rồng chồm lªn sừng sững như đang nhả ngọc xuống thung lũng Sa Pa. Mây giăng giăng như một dải sương mờ phủ kín thung lũng. Hoa anh đào lập lòe bừng sáng ngập tràn phố núi. Những bông hoa đồng tiền xoè như chiếc ô đỏ giăng kín hai lối đi. Hoa lưu ly sang trọng tỏa hương ngan ngát, hoa mộc miên đỏ rực như lửa. Những đôi vợ chồng người Mông tay dắt ngựa, lưng đeo quẩy tấu thung thăng ra chợ. Người Mông có câu:"Lòng dạ có tốt thì ra chợ mới biết". Ra chợ, gặp mọi người, được nói thoả thích, uống ăn thoả thích và yêu cũng thoả thích, lòng dạ mình được cởi ra hết, sướng lắm. Mí Vàng còn vui hơn mọi người. Chỉ lát nữa Mí Vàng sẽ gặp được ngọn lửa ấm của mình. Rồi đêm nay, Mí Vàng sẽ thổi khèn ở chợ tình, lời chiếc khèn sẽ nói hộ cho lòng Mí Vàng: "Gió thổi lá cây bên khe Nếu ta là giọt sương Ta xin tan trên bàn tay nàng Gió thổi lá cây, lật ngả nghiêng bên suối Nếu ta là bông tuyết trắng Ta xin tan dưới bàn tay nàng". Mí Vàng đã đi hết phố chợ, vòng qua quán thắng cố, rồi ngược lên núi Rồng, rồi lại rẽ xuống phố nhà thờ... Thị trấn Sa Pa nhỏ bé, chỉ đi chưa mỏi cái đầu gối đã hết mà không thấy người ấy đâu. Người ấy có đi? Người ấy không đi?Mí Vàng lại đi lại một lần nữa. Thị trấn Sa Pa nhỏ bé, cái đầu gối chưa mỏi đã đi hết. Người ấy có đi? Người ấy không đi? Đến tối thì Mí Vàng gặp hai đứa cháu ngoại của người ấy ở quán thắng cố, nó nói: - Bà ngoại không muốn gặp nữa đâu. Bà ngoại ở nhà rồi. Lời nói như cật nứa khứa vào trái tim Mí Vàng. Núi Rồng như sụp đổ, đầu óc Mí vàng tê dại. Đêm ấy Mí Vàng uống không biết bao nhiêu là rượu. Rượu ngô chảy vào trong huyết quản làm huyết quản cháy lên, nhưng không làm cho lòng Mí Vàng nhẹ bớt. Mí Vàng chỉ muốn khóc, khóc thật to cho lòng vơi đi khổ đau. Mí Vàng uống rượu suốt ngày chủ nhật. Uống đến nỗi núi Rồng lộn ngược xuống vực, thung lũng chảo hoa Sa Pa hất ngược lên trời. Mây mù giăng giăng loãng ra, quấn lấy cành cây sa mu, dạt xuống mặt hồ. ***
Sau cái ngày con cháu tổ chức bữa cơm mừng Sải tám mươi tuổi, lòng Sải như có ngọn lửa cháy bỏng rát ở trong. Sải đứng ngồi không yên, ra ra vào vào, lòng dạ ngổn ngang. Sải thương Mí Vàng biết nhường nào. Sải thương đến cả từng cái móng tay, từng sợi tóc của Mí Vàng. Nếu có thể Sải ngồi cả ngày, cả đời chăm chút từng sợi lông mi cho Mí Vàng quyết không để một sợi bị xước. Nghĩ thì nghĩ như thế, nhưng mà Sải ngại, ngại lắm. Mí Vàng có hiểu cho lòng Sải không? Hay lại cho Sải là người chả ra gì. Sải già quá rồi, mà Mí Vàng thì còn quá trẻ. - Ê! bà già người Mông, sao lại đi ra giữa đường? Sải giật mình ngẩng lên. Thế ra Sải đã ra đến thị trấn Sa Pa. Mải nghĩ nên đi không đúng phần đường. Núi Rồng ở trước mặt, đỉnh Phan Xi Păng ở sau lưng. Cây sa mu sừng sững thẳng tắp đứng ở mé đồi trông như cái cột điện cao thế. Sải đi thẳng đến quán thắng cố quen thuộc. Người chủ quán vừa trông thấy đã nói: -Xin chào...! Anh ta tránh câu nói " bà cụ", rồi chạy ra đỡ lấy cái quẩy tấu, một tay dắt Sải vào trong nhà thì thầm vào tai Sải điều gì hệ trọng lắm. Nghe xong, tim Sải như thắt lại. Nhưng cái tuổi Sải đã nhiều, nên bên ngoài không ai biết trong lòng Sải đang quặn thắt. Sải ngồi phịch xuống chiếc ghế, nhìn vô hồn ra hồ. Cứ thế, đôi mắt Sải không chớp, khuôn ngực không phập phồng, nhưng máu thì bắt đầu đông cứng. Tất cả cây cối, hoa lá, mây mù và cả gió ở Sa Pa đều ngưng lại. Xe cộ, người, ngựa... đều lặng lẽ chuyển động vòng vèo quanh cái thị trấn bé nhỏ. Trời ạ! sự chuyển động của đất trời sao mà cay nghiệt, vô tâm đến thế? Tại sao, Sải không thể trẻ lại 50 tuổi nữa?Tại sao thời gian cứ vô tình trôi đi? Sải ở lại gần một tuần để chờ ngày thứ bảy. Thứ bảy đã đến. Sải ngồi ở đầu con đường từ bản Trung Chai ra Sa Pa đón Mí Vàng từ sáng sớm. Sương mù dày đặc quấn lấy chân Sải như thể những sợi tơ. Hương cây ngải cứu phảng phất làm Sải tỉnh táo hẳn. Sườn đồi bên kia suối Trung Hồ ruộng bậc thang dần hiện ra như bức tranh thêu rực rỡ. Sải không hy vọng gì vào tình yêu của Mí Vàng, nhưng lòng Sải thì nhớ mong Mí Vàng da diết. Nỗi nhớ chiến thắng những suy nghĩ chính xác. Cái chân người Mông làm theo con tim chứ không thể làm theo cái đầu tỉnh táo. Mặt trời chui khỏi khe núi, rồi mặt trời cheo trên cây sa mu, rồi mặt trời đã ngồi trên sườn Ma Cheo Văn. Từ xa Sải nhìn thấy thấy Mí Vàng tay dắt con ngựa đen lững thững từ dưới dốc đi đến. Cùng lúc Mí Vàng cũng nhìn thấy Sải trong bộ váy áo người Mông ngồi trên một phiến đá ven đường. Dãy Phan Xi Păng, rồi cả đỉnh núi Rồng như bị siêu vẹo. Tim Sải cũng vỡ tung. Nhưng Sải kìm lại được, chỉ đứng dậy bấm những ngón chân, mặt đất như núng xuống, hai bàn tay kéo ghì chiếc áo làm những sợi lanh căng ra muốn đứt. Còn Mí Vàng thì buông dây ngựa, miệng hét toáng lên cho vỡ trời, vừa hét vừa chạy đến bên Sải, cầm lấy bàn tay Sải, miệng lắp bắp: •- Tôi nhớ quá! tôi... Tôi... rất nhớ... bà! Sải tưởng đó là tiếng lỡ lời của núi Rồng. Nhưng không, người Mí Vàng đang rung lên, nước mắt của Giàng Mí Vàng đang chảy ra, cùng với cái xiết của đôi bàn tay Mí Vàng khiến trái tim Sải muốn nghẹt thở. Rừng Sa Pa đang chuyển động. Đỉnh Phan Xi Păng sừng sững giữa trời. Núi Rồng đang nhả ngọc phun châu xuống thung lũng Sa Pa. Hoa! Trời ơi hoa đang bừng nở giữa đất trời Sa Pa huyền ảo. Thị trấn Sa Pa như một chiếc áo người Mông sặc sỡ. Cả Sa Pa như một rừng hoa. Rồi sương! Sương mù giăng giăng như những sợi tơ lòng quấn lấy cây, lấy hoa, lấy người, lấy tất cả...Thì ra cái mà Sải cần, cần suốt đời hơn cả chén rượu, miếng mèn mén, bát thắng cố... là đây. Trời ơi! Bao nhiêu chất chứa, bao nhiêu lo âu, bao nhiêu thấp thỏm, bao nhiêu nghi ngờ, bao nhiêu giận hờn và cả bao nhiêu thời gian nữa, bỗng tan biến hết vào hư không mà lòng Sải lại không kiệt.
Mùa xuân Canh Dần B.T.M
Bùi Thanh Minh
Chuyện tình Sa Pa
Sải nằm nghe tiếng con vượn hót ngoài thác Bạc suốt từ bốn giờ sáng. Tiếng hót lúc véo von, khi tha thiết; lại có lúc chìm vào tiếng thác nước đổ ào ào như rừng động, nước từ trên cao dội xuống tràn ra lênh láng, từng đợt, từng đợt như sóng của con suối Trung Hồ. Tiếng vượn vút lên tới non cao, rồi thả xuống vực thẳm, lặng chìm sâu đáy suối. Ngoài nương nhà con Mẩy bắt đầu có tiếng gà rừng te te gáy. Đó là con gà trống màu đỏ đang đậu trên cành bằng lăng, đã mấy lần Sải nhìn thấy. Lát nữa nó sẽ bay xuống nương ngô cùng với mấy con gà mái màu nâu đi kiếm mồi. Đó là lúc tiếng gáy của con trống tắt, tiếng con vượn đực ngoài thác nước cũng tắt và tiếng đàn chim rừng sẽ tấu lên rộn rã. Cả một trời xanh vang lên bản nhạc tưng bừng của núi rừng. Bên nhà thằng Cư Seo Phủ đàn lợn cũng thức dậy đuổi nhau, cắn nhau ngoài vườn vải kêu chí chóe. Sải trằn mình nằm nghiêng, suy nghĩ miên man. Hôm nay các con, các cháu, các chắt của Sải làm cỗ mừng Sải tròn tám mươi tuổi. Thật khó cho Sải, hôm nay cũng là thứ bảy. Thứ bảy ở trên thị trấn Sa Pa có phiên chợ tình. Sải và người ấy sẽ gặp nhau, cùng nhau uống rượu cho thật say, cùng nhau làm cho núi rừng tan thành tro bụi. Kể từ cái đêm ấy... đã 16 phiên chợ tình, không phiên nào Sải và người ấy không bên nhau để chia sẻ những buồn vui, sướng khổ của cuộc đời. Chỉ mới nghĩ đến đấy, toàn thân Sải như sôi lên, cái muốn ở trong lòng cuồn cuộn làm tim Sải thậm thịch.Vì thế Sải không muốn ở n
|
| Sách mới |
Viết bởi buthaiminh 04:46 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (8) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
TIN VĂN NGHỆ |
Sách ế: Nhà xuất bản Hà Nội vừa ra mắt bạn đọc tập truyện ngắn chọn lọc ( Ảnh bìa một). Khổ sách 14,5 x20,5, gồm 23 truyện ngắn chọn lọc của tác giả. Hiện nay sách bị ế 1000 cuốn, bán không ai mua. Đồng bào bán xôi, bán khoai cần thì tác giả và nhà xuất bản sẽ biếu.
|
| Báo văn nghệ trẻ phỏng vấn |
Viết bởi buthaiminh 20:11 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (1) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
PHÊ BÌNH -TIỂU LUẬN |
(Bài đăng báo Văn nghệ trẻ số 34)
Giải thưởng Văn học- Nghệ thuật Bộ Quốc phòng lần thứ 5:
Các tác phẩm về chiến tranh cách mạng ngày càng hay hơn
"Đến hẹn lại lên", năm năm một lần, Giải thưởng văn học - nghệ thuật của Bộ Quốc phòng lại thu hút được sự quan tâm của giới sáng tác đang hoạt động trong môi trường Quân đội. Nhân dịp "khởi động" lần thứ năm của Giải thưởng này, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với nhà văn, đại tá Bùi Thanh Minh- thành viên Ban tổ chức Giải thưởng Văn học- Nghệ thuật Bộ Quốc phòng . Độ lùi để nhìn nhận về cuộc chiến, cũng như hệ luỵ của nó làm cho những người cầm bút thấm thía hơn, ngẫm ngợi sâu sắc hơn và vì thế tác phẩm của họ phản ánh đa chiều, hình thức thể hiện cũng phong phú. Những bộ tiểu thuyết dày hàng ngàn trang ra đời phản ánh đa diện cuộc chiến. Đã có những tác phẩm chạm đến những điều nhạy cảm mà trước đây được coi là huý kỵ. Những loại tác phẩm ngợi ca một chiều ngày một thưa vắng. Còn một điều đáng mừng, những tác phẩm của các tác giả trẻ viết về người chiến sỹ hôm nay bắt đầu khởi sắc.
*Giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng 5 năm một lần, giành cho các tác phẩm văn học xuất sắc viết về đề tài lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng (LLVT,CTCM) trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là một giải thưởng văn học uy tín, tuy nhiên có một thực tế là thời gian qua Giải thưởng này chưa tạo được tiếng vang trong đời sống văn chương nước nhà (dù có tác phẩm sau đó được Giải thưởng Hội nhà văn). Vì sao vậy, thưa anh? NHÀ VĂN BÙI THANH MINH: Trong quân đội, đề tài này được Đảng uỷ Quân sự Trung ương - Bộ Quốc phòng đặc biệt quan tâm. Liên tục mấy chục năm qua dưới nhiều hình thức, Quân đội đã không ngừng động viên khích lệ các nhà văn sáng tạo ra những tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, đóng góp cho nền văn học cách mạng.
(Xem tiếp)
|
| Tin văn nghệ |
Viết bởi buthaiminh 20:07 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (0) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
TIN VĂN NGHỆ |
Phát động cuộc vận động "Viết kỷ niệm sâu sắc về tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam-Lào-Campuchia"
Sáng 18-8, tại Hà Nội, Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam đã tổ chức lễ phát động "Viết kỷ niệm sâu sắc về tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam-Lào-Campuchia" và khai mạc trại viết "Kỷ niệm sâu sắc về tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam-Lào". Nhiều nhà văn, nhà báo, các đồng chí tướng lĩnh, cán bộ quân đội đã từng có nhiều năm sống, chiến đấu, công tác trên đất bạn Lào và Campuchia đã đến dự.  Ảnh Trọng Bảo Cuộc vận động góp phần lưu giữ và ghi nhận những kỷ niệm sâu sắc, kinh nghiệm chiến đấu, tình đoàn kết của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ba nước Đông Dương cùng chống lại kẻ thù chung, bảo vệ Tổ quốc; và làm tư liệu nghiên cứu, giáo dục truyền thống cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta và bạn; khơi dậy niềm tự hào của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đã từng tham gia công tác, chiến đấu giúp bạn Lào và Campuchia.
Cuộc vận động nhằm động viên các cán bộ, chiến sĩ, cựu chiến binh và tất cả những người đã từng tham gia giúp bạn chiến đấu tại Lào và Campuchia có khả năng tái tạo lại bằng văn bản những kỷ niệm sâu sắc thời gian công tác, chiến đấu giúp bạn trong cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc. Thể loại tác phẩm là truyện kỷ niệm sâu sắc với chủ đề tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam-Lào-Campuchia, mỗi truyện không quá 5.000 từ. Tác phẩm chưa in, hoặc xuất bản. Mỗi tác giả có thể gửi từ 01 đến 03 tác phẩm. Thời gian và nơi nhận tác phẩm từ tháng 11-2009 đến 31-10-2011. Tổ chức trao giải thưởng vào tháng 12-2011. Nơi nhận tác phẩm: Phòng Văn hóa Văn nghệ Quân đội- Số 4-Lý Nam Đế-Hà Nội. Ngoài bì thư ghi rõ: "Bài tham gia cuộc vận động viết kỷ niệm sâu sắc". Dự kiến giải thưởng gồm: Hai giải A, mỗi giải trị giá 12 triệu đồng, bốn giải B, mỗi giải trị giá 06 triệu đồng, sáu giải C, mỗi giải trị giá 03 triệu đồng, 16 giải khuyến khích, mỗi giải trị giá 01 triệu đồng. Trọng Bảo
|
| Thông báo |
Viết bởi buthaiminh 21:00 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (0) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
TIN VĂN NGHỆ |
Thông báo Về cuộc vận động "Viết kỷ niệm sâu sắc về tình đoàn kết chiến đấuViệt Nam - Lào - Campuchia"
Để lưu giữ và ghi nhận những kỷ niệm sâu sắc, kinh nghiệm chiến đấu, tình đoàn kết của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ba nước Đông Dương cùng chống lại kẻ thù chung, bảo vệ Tổ quốc; và làm tư liệu nghiên cứu, giáo dục truyền thống cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta và bạn; khơi dậy niềm tự hào của cán bộ, chiến sỹ và nhân dân đã từng tham gia công tác, chiến đấu giúp bạn Lào và Căm Pu Chia; Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam phát động cuộc vận động "Viết kỷ niệm sâu sắc về tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia 1.Đối tượng tham dự: Cán bộ, chiến sỹ, cựu chiến binh và tất cả những người đã từng tham gia giúp bạn chiến đấu tại Lào và Cămpuchia; có khả năng tái tạo lại bằng văn bản những kỷ niệm sâu sắc thời gian công tác, chiến đấu giúp bạn trong cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc. 2. Thể loại tác phẩm: Truyện kỷ niệm sâu sắc. 3. Chủ đề: Tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào - Cămpuchia 4. Thể lệ gửi tác phẩm: - Mỗi truyện không quá 5.000 từ, đánh máy trên một mặt giấy( hoặc viết tay rõ ràng) dưới mỗi bài ghi rõ họ và tên, địa chỉ, số điện thoại (nếu có) để liên hệ.Tác phẩm chưa in, hoặc xuất bản. - Mỗi tác giả có thể gửi từ 01 đến 03 tác phẩm. 5-Thời gian và nơi nhận tác phẩm: -Nhận tác phẩm từ tháng 11/2009 đến 31/10/ 2011. Tổ chức trao giải thưởng tháng 12/2011. - Nơi nhận tác phẩm: Phòng Văn hóa Văn nghệ Quân đội- Số 4- Lý Nam Đế - Hà Nội. Ngoài bì thư ghi rõ: " Bài tham gia cuộc vận động viết kỷ niệm sâu sắc". 6. Dự kiến cơ cấu giải thưởng: - Hai giải A, mỗi giải trị giá 12 triệu đồng. - Bốn giải B, mỗi giải trị giá 06 triệu đồng. - Sáu giải C, mỗi giải trị giá 03 triệu đồng. - 16 giải khuyến khích, mỗi giải trị giá 01 triệu đồng. Mọi vấn đề cần trao đổi, liên hệ trực tiếp: Đại tá - Nhà văn Bùi Thanh Minh. ĐT 0983.602.677. Hoặc 069 554967
|
|
| Tự giới thiệu |

BÙI THANH MINH
HỘI VIÊN HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM
LIÊN LAC:
ĐT: 098.3.602.677:
Email: buithanhminh9@yahoo.com.vn
TRANG CHỦ:
http://buthaiminh.vnweblogs.com
http://btm.demo.to
|
| Lịch |
| « |
January 2012 |
» |
| 1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
| 8 |
9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
| 15 |
16 |
17 |
18 |
19 |
20 |
21 |
| 22 |
23 |
24 |
25 |
26 |
27 |
28 |
| 29 |
30 |
31 |
|
|
|
|
|
| tìm kiếm |
|
|
| bài gần đây... |
|
|
| Các góp ý gần đây |
|
|
| categories |
|
|
| lưu trữ |
|
|
| liên kết cá nhân |
- ÂM NHẠC
- BẠN BÈ
- DƯ LUẬN
- VĂN HỌC
|
| Trang chính |
|
|
| Xuất bản tin |
|
|
| Trạng thái của blog |
- Tổng số bài viết: 83
- Tổng số góp ý: 115
- Tổng số trackbacks: 0
- Tổng số lượt xem bài: 7.278
|
|